Tốt nghiệp THPT 2026 · Công nghệ Nông nghiệp · Mã đề 0734 · THỬ
Câu 1/40
Bản làm thử: 3 câu đầu miễn phí, đăng ký để làm cả 40 câu.Đăng ký miễn phí
Câu 1
0,25 điểm
Hiện nay, nhiều người có nhu cầu nuôi chó làm thú cưng, tuy nhiên việc này tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm các bệnh kí sinh trùng đường ruột từ chó sang người. Biện pháp nào sau đây phòng ngừa hiệu quả nguy cơ trên?
Câu 2
0,25 điểm
Hệ số nhân giống cao, cây con sạch bệnh và đồng nhất về di truyền là ưu điểm của phương pháp nhân giống nào sau đây?
Câu 3
0,25 điểm
Phát biểu nào sau đây đúng về ưu điểm của kĩ thuật PCR trong chẩn đoán bệnh vật nuôi?
Câu 4
0,25 điểm
Công nghệ trồng cây thủy canh có đặc điểm nào sau đây?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Sau một thời gian nuôi cá lóc bằng thức ăn tươi sống, nước trong ao chuyển sang màu xanh đậm, nước đục và có mùi hôi. Để xử lí tình trạng trên, cần thực hiện biện pháp nào sau đây?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Một nhóm học sinh thảo luận và đề xuất các hoạt động góp phần bảo vệ tài nguyên rừng như sau:
(a) Sử dụng giấy tiết kiệm.
(b) Nuôi động vật rừng quý hiếm làm cảnh.
(c) Tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã.
(d) Trồng cây gây rừng.
Số hoạt động đúng là
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Cho các phát biểu sau:
(a) Chất khoáng tham gia cấu tạo tế bào và các cơ quan của cơ thể vật nuôi.
(b) Khoáng đa lượng gồm các nguyên tố như Ca, P, Mg, Na.
(c) Khoáng vi lượng gồm các nguyên tố như Fe, Cu, Co, Mn, Zn.
(d) Vật nuôi có nhu cầu khoáng vi lượng cao hơn so với nhu cầu khoáng đa lượng.
Có bao nhiêu phát biểu đúng về dinh dưỡng khoáng của vật nuôi?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Một rừng keo lai, sau 30 ngày trồng kiểm tra thấy tỉ lệ sống của cây đạt 80%. Để đảm bảo mật độ cây rừng cần thực hiện bón phân, tưới nước kết hợp với biện pháp nào sau đây?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Trong trồng rừng lấy gỗ, thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch có thể kéo dài hàng chục năm. Nội dung trên thể hiện đặc trưng nào của sản xuất lâm nghiệp?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm tỉa chồi đến tỉ lệ sống của cây Tràm lá dài (*Melaleuca leucadendra* L.) tái sinh sau khai thác trắng tại Tây Ninh, thí nghiệm được bố trí gồm 4 công thức (CT): CT0: không tỉa chồi; CT1: tỉa chồi sau 6 tháng khai thác; CT2: tỉa chồi sau 12 tháng khai thác; CT3: tỉa chồi sau 18 tháng khai thác. Kết quả thu được như bảng sau:
| Công thức | Tỉ lệ sống (%) 30 tháng sau khai thác | Tỉ lệ sống (%) 42 tháng sau khai thác |
| --- | --- | --- |
| CT0 | 76,9$^{c}$ | 69,9$^{c}$ |
| CT1 | 84,2$^{b}$ | 81,6$^{b}$ |
| CT2 | 93,8$^{a}$ | 89,4$^{a}$ |
| CT3 | 85,8$^{b}$ | 81,7$^{b}$ |
*Nguồn: Nguyễn Văn Lưu và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 2, trang 51-62.*
*Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Nhận định nào sau đây đúng?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Bệnh hoại tử thần kinh gây hại trên nhiều loài cá biển do Betanodavirus gây ra. Để xác định nhanh virus gây bệnh ngay tại khu vực nuôi, cần thực hiện biện pháp nào sau đây?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Giống bò Holstein Friesian có sản lượng sữa khoảng 3 500 - 4 000 kg/chu kì, giống bò Red Sindhi có sản lượng sữa khoảng 1 400 - 2 100 kg/chu kì. Nội dung trên thể hiện vai trò nào của giống trong chăn nuôi?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 25 – 28 · chạm để mở lại
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn *Aeromonas veronii* gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
- FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
- FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn *Aeromonas veronii* trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)*
*Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.*
Câu 25
0,25 điểm
a) Tỉ lệ sống của cá ở nghiệm thức FH2 cao gấp 2 lần so với nghiệm thức FH0.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 25 – 28 · chạm để mở lại
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn *Aeromonas veronii* gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
- FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
- FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn *Aeromonas veronii* trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)*
*Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.*
Câu 26
0,25 điểm
b) Tỉ lệ chết cộng dồn của cá ở các nghiệm thức FH10 và FH5 lần lượt là 20% và 10%.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 25 – 28 · chạm để mở lại
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn *Aeromonas veronii* gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
- FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
- FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn *Aeromonas veronii* trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)*
*Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.*
Câu 27
0,25 điểm
c) Tỉ lệ chế phẩm thảo dược lên men bổ sung vào thức ăn tăng lên thì tỉ lệ chết cộng dồn của cá luôn tăng.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 25 – 28 · chạm để mở lại
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn *Aeromonas veronii* gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
- FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
- FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
- FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn *Aeromonas veronii* trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)*
*Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.*
Câu 28
0,25 điểm
d) Trong 4 nghiệm thức thí nghiệm, để phòng bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép đạt hiệu quả cao nhất cần cho cá ăn theo nghiệm thức FH5.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 29 – 32 · chạm để mở lại
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
- NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
- NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
- NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
- NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
| Nghiệm thức | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối | Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg) |
| --- | --- | --- | --- |
| NT1 | 1,63 | 7,06$^{b}$ | 29,529 |
| NT2 | 1,63 | 6,74$^{a}$ | 6,624 |
| NT3 | 1,63 | 7,43$^{c}$ | 14,250 |
| NT4 | 1,63 | 7,82$^{d}$ | 9,373 |
*Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.*
*Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 29
0,25 điểm
a) Tăng trưởng khối lượng trung bình của cá ở NT2 cao hơn so với NT1.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 29 – 32 · chạm để mở lại
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
- NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
- NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
- NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
- NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
| Nghiệm thức | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối | Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg) |
| --- | --- | --- | --- |
| NT1 | 1,63 | 7,06$^{b}$ | 29,529 |
| NT2 | 1,63 | 6,74$^{a}$ | 6,624 |
| NT3 | 1,63 | 7,43$^{c}$ | 14,250 |
| NT4 | 1,63 | 7,82$^{d}$ | 9,373 |
*Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.*
*Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 30
0,25 điểm
b) So với NT1, chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng của cá ở NT3 giảm 68,26%.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 29 – 32 · chạm để mở lại
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
- NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
- NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
- NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
- NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
| Nghiệm thức | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối | Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg) |
| --- | --- | --- | --- |
| NT1 | 1,63 | 7,06$^{b}$ | 29,529 |
| NT2 | 1,63 | 6,74$^{a}$ | 6,624 |
| NT3 | 1,63 | 7,43$^{c}$ | 14,250 |
| NT4 | 1,63 | 7,82$^{d}$ | 9,373 |
*Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.*
*Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 31
0,25 điểm
c) Cho cá ăn theo NT2 thì chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng của cá là thấp nhất.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 29 – 32 · chạm để mở lại
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
- NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
- NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
- NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
- NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
| Nghiệm thức | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu | Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối | Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg) |
| --- | --- | --- | --- |
| NT1 | 1,63 | 7,06$^{b}$ | 29,529 |
| NT2 | 1,63 | 6,74$^{a}$ | 6,624 |
| NT3 | 1,63 | 7,43$^{c}$ | 14,250 |
| NT4 | 1,63 | 7,82$^{d}$ | 9,373 |
*Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.*
*Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 32
0,25 điểm
d) Việc sử dụng rong mền khô thay thế một phần thức ăn viên giúp cá tăng trọng nhanh hơn và tiết kiệm chi phí thức ăn hơn so với cho ăn hoàn toàn thức ăn viên trong thời gian nghiên cứu.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 33 – 36 · chạm để mở lại
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)*
*Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.*
*Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.*
Câu 33
0,25 điểm
a) Trong các nghiệm thức thí nghiệm, để ương cá chép giống cho tỉ lệ sống và tăng trưởng khối lượng cao nhất nên sử dụng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 33 – 36 · chạm để mở lại
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)*
*Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.*
*Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.*
Câu 34
0,25 điểm
b) Ương cá chép giống ở NT1 và NT2 có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng khối lượng của cá.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 33 – 36 · chạm để mở lại
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)*
*Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.*
*Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.*
Câu 35
0,25 điểm
c) Ương cá chép giống ở nghiệm thức 2 cho tỉ lệ sống thấp hơn so với 2 nghiệm thức còn lại.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 33 – 36 · chạm để mở lại
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
*(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)*
*Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.*
*Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.*
Câu 36
0,25 điểm
d) Khi ương cá chép giống trong hệ thống biofloc tỉ lệ sống luôn đạt trên 98%.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 37 – 40 · chạm để mở lại
Mây chỉ (*Calamus dioicus* Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
| Thông số | CT0 | CT1 | CT2 | CT3 |
| --- | --- | --- | --- | --- |
| Tỉ lệ sống (%) | 86,39$^{a}$ | 84,45$^{a}$ | 88,89$^{a}$ | 87,78$^{a}$ |
| Chiều dài thân trung bình (cm) | 72,03$^{c}$ | 87,03$^{b}$ | 88,03$^{b}$ | 103,30$^{a}$ |
| Số chồi trung bình/cụm (chồi) | 2,63$^{b}$ | 3,00$^{b}$ | 2,77$^{b}$ | 3,63$^{a}$ |
*Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.*
*Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 37
0,25 điểm
a) Chiều dài thân trung bình của cây Mây chỉ ở CT2 cao hơn so với CT0.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 37 – 40 · chạm để mở lại
Mây chỉ (*Calamus dioicus* Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
| Thông số | CT0 | CT1 | CT2 | CT3 |
| --- | --- | --- | --- | --- |
| Tỉ lệ sống (%) | 86,39$^{a}$ | 84,45$^{a}$ | 88,89$^{a}$ | 87,78$^{a}$ |
| Chiều dài thân trung bình (cm) | 72,03$^{c}$ | 87,03$^{b}$ | 88,03$^{b}$ | 103,30$^{a}$ |
| Số chồi trung bình/cụm (chồi) | 2,63$^{b}$ | 3,00$^{b}$ | 2,77$^{b}$ | 3,63$^{a}$ |
*Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.*
*Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 38
0,25 điểm
b) Bón phân ở các công thức khác nhau không ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây Mây chỉ.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 37 – 40 · chạm để mở lại
Mây chỉ (*Calamus dioicus* Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
| Thông số | CT0 | CT1 | CT2 | CT3 |
| --- | --- | --- | --- | --- |
| Tỉ lệ sống (%) | 86,39$^{a}$ | 84,45$^{a}$ | 88,89$^{a}$ | 87,78$^{a}$ |
| Chiều dài thân trung bình (cm) | 72,03$^{c}$ | 87,03$^{b}$ | 88,03$^{b}$ | 103,30$^{a}$ |
| Số chồi trung bình/cụm (chồi) | 2,63$^{b}$ | 3,00$^{b}$ | 2,77$^{b}$ | 3,63$^{a}$ |
*Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.*
*Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 39
0,25 điểm
c) Tỉ lệ sống của cây Mây chỉ thấp nhất ở công thức không bón phân.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 37 – 40 · chạm để mở lại
Mây chỉ (*Calamus dioicus* Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
| Thông số | CT0 | CT1 | CT2 | CT3 |
| --- | --- | --- | --- | --- |
| Tỉ lệ sống (%) | 86,39$^{a}$ | 84,45$^{a}$ | 88,89$^{a}$ | 87,78$^{a}$ |
| Chiều dài thân trung bình (cm) | 72,03$^{c}$ | 87,03$^{b}$ | 88,03$^{b}$ | 103,30$^{a}$ |
| Số chồi trung bình/cụm (chồi) | 2,63$^{b}$ | 3,00$^{b}$ | 2,77$^{b}$ | 3,63$^{a}$ |
*Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.*
*Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).*
Câu 40
0,25 điểm
d) Trong các công thức thí nghiệm, để cây Mây chỉ sinh trưởng, phát triển tốt nhất nên bón phân theo công thức NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm).
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Trong nhân giống cá rô phi, sử dụng hormone 17α-methyl testosterone nhằm mục đích nào sau đây?
Một nhóm học sinh thảo luận và đề xuất các hoạt động góp phần bảo vệ tài nguyên rừng như sau:
(a) Sử dụng giấy tiết kiệm.
(b) Nuôi động vật rừng quý hiếm làm cảnh.
(c) Tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã.
(d) Trồng cây gây rừng.
Số hoạt động đúng là
Cho các phát biểu sau:
(a) Chất khoáng tham gia cấu tạo tế bào và các cơ quan của cơ thể vật nuôi.
(b) Khoáng đa lượng gồm các nguyên tố như Ca, P, Mg, Na.
(c) Khoáng vi lượng gồm các nguyên tố như Fe, Cu, Co, Mn, Zn.
(d) Vật nuôi có nhu cầu khoáng vi lượng cao hơn so với nhu cầu khoáng đa lượng.
Có bao nhiêu phát biểu đúng về dinh dưỡng khoáng của vật nuôi?
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm tỉa chồi đến tỉ lệ sống của cây Tràm lá dài (Melaleuca leucadendra L.) tái sinh sau khai thác trắng tại Tây Ninh, thí nghiệm được bố trí gồm 4 công thức (CT): CT0: không tỉa chồi; CT1: tỉa chồi sau 6 tháng khai thác; CT2: tỉa chồi sau 12 tháng khai thác; CT3: tỉa chồi sau 18 tháng khai thác. Kết quả thu được như bảng sau:
Công thức
Tỉ lệ sống (%) 30 tháng sau khai thác
Tỉ lệ sống (%) 42 tháng sau khai thác
CT0
76,9c
69,9c
CT1
84,2b
81,6b
CT2
93,8a
89,4a
CT3
85,8b
81,7b
Nguồn: Nguyễn Văn Lưu và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 2, trang 51-62.
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nhận định nào sau đây đúng?
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn Aeromonas veronii gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn Aeromonas veronii trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)
Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn Aeromonas veronii gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn Aeromonas veronii trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)
Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn Aeromonas veronii gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn Aeromonas veronii trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)
Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.
Bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép do vi khuẩn Aeromonas veronii gây ra. Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh của chế phẩm thảo dược lên men (hoàng kỳ, cam thảo, ngũ gia bì, lợi khuẩn và nấm men) đối với bệnh xuất huyết nội tạng ở cá chép, tiến hành thí nghiệm bằng cách cho cá ăn thức ăn có bổ sung chế phẩm thảo dược với 4 nghiệm thức như sau:
FH0: không bổ sung chế phẩm thảo dược lên men vào thức ăn.
FH2: bổ sung 2g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH5: bổ sung 5g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
FH10: bổ sung 10g chế phẩm thảo dược lên men/1kg thức ăn.
Sau 6 tuần cho ăn, tiến hành gây nhiễm vi khuẩn Aeromonas veronii trên cá. Kết quả về tỉ lệ chết cộng dồn của cá sau 14 ngày gây nhiễm vi khuẩn được thể hiện ở hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột, trục tung là tỉ lệ chết cộng dồn (%) chia từ 0 đến 80. Giá trị ghi trên các cột: FH0 là 70, FH2 là 40, FH5 là 10, FH10 là 20.)
Nguồn: Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, số 2, trang 15-25.
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
Nghiệm thức
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối
Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg)
NT1
1,63
7,06b
29,529
NT2
1,63
6,74a
6,624
NT3
1,63
7,43c
14,250
NT4
1,63
7,82d
9,373
Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
Nghiệm thức
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối
Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg)
NT1
1,63
7,06b
29,529
NT2
1,63
6,74a
6,624
NT3
1,63
7,43c
14,250
NT4
1,63
7,82d
9,373
Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
Nghiệm thức
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối
Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg)
NT1
1,63
7,06b
29,529
NT2
1,63
6,74a
6,624
NT3
1,63
7,43c
14,250
NT4
1,63
7,82d
9,373
Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Nhằm đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô để thay thế thức ăn viên cho cá trắm cỏ, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức (NT) như sau:
NT1: cho ăn hoàn toàn thức ăn viên.
NT2: cho ăn hoàn toàn rong mền khô.
NT3: cho ăn luân phiên 1 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
NT4: cho ăn luân phiên 2 ngày rong mền khô và 1 ngày thức ăn viên.
Sau 45 ngày nuôi, kết quả thu được như bảng sau:
Nghiệm thức
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng ban đầu
Khối lượng trung bình của cá (g): khối lượng cuối
Chi phí thức ăn cho cá tăng trọng (1.000 đ/kg)
NT1
1,63
7,06b
29,529
NT2
1,63
6,74a
6,624
NT3
1,63
7,43c
14,250
NT4
1,63
7,82d
9,373
Nguồn: Tiền Hải Lý và cộng sự (2025). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(2), trang 203-211.
Ghi chú: Trong cùng một cột, các chữ cái a, b, c, d khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)
Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.
Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)
Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.
Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)
Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.
Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường và bột ngô đến tăng trưởng của cá chép giống, 3 nghiệm thức (NT) thí nghiệm được bố trí gồm: NT1: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ rỉ đường; NT2: ương bằng công nghệ biofloc với nguồn carbon từ bột ngô; NT3: ương nuôi thông thường (đối chứng). Sau 60 ngày thí nghiệm, kết quả thu được như hình dưới đây:
(Hình: biểu đồ cột ghép, mỗi nghiệm thức có hai cột. Tỉ lệ sống (%): NT1 là 98,33; NT2 là 95,83; NT3 là 90,83. Khối lượng kết thúc (g/con): NT1 là 74,64; NT2 là 72,83; NT3 là 67,20.)
Nguồn: Đỗ Đăng Khoa và cộng sự (2022). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 20(8), trang 1021-1030.
Ghi chú: Khối lượng cá ban đầu đều bằng nhau ở các nghiệm thức.
Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
Thông số
CT0
CT1
CT2
CT3
Tỉ lệ sống (%)
86,39a
84,45a
88,89a
87,78a
Chiều dài thân trung bình (cm)
72,03c
87,03b
88,03b
103,30a
Số chồi trung bình/cụm (chồi)
2,63b
3,00b
2,77b
3,63a
Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
Thông số
CT0
CT1
CT2
CT3
Tỉ lệ sống (%)
86,39a
84,45a
88,89a
87,78a
Chiều dài thân trung bình (cm)
72,03c
87,03b
88,03b
103,30a
Số chồi trung bình/cụm (chồi)
2,63b
3,00b
2,77b
3,63a
Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
Thông số
CT0
CT1
CT2
CT3
Tỉ lệ sống (%)
86,39a
84,45a
88,89a
87,78a
Chiều dài thân trung bình (cm)
72,03c
87,03b
88,03b
103,30a
Số chồi trung bình/cụm (chồi)
2,63b
3,00b
2,77b
3,63a
Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Mây chỉ (Calamus dioicus Lour.) là một loài lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến sinh trưởng của cây Mây chỉ trồng dưới tán rừng tự nhiên tại tỉnh Lâm Đồng, thí nghiệm được bố trí với 4 công thức (CT): CT0: không bón phân (đối chứng); CT1: bón NPK (0,2 kg/hố/năm); CT2: bón phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm); CT3: bón NPK (0,2 kg/hố/năm) + phân hữu cơ vi sinh (1kg/hố/năm). Kết quả thu được như bảng sau:
Thông số
CT0
CT1
CT2
CT3
Tỉ lệ sống (%)
86,39a
84,45a
88,89a
87,78a
Chiều dài thân trung bình (cm)
72,03c
87,03b
88,03b
103,30a
Số chồi trung bình/cụm (chồi)
2,63b
3,00b
2,77b
3,63a
Nguồn: Phạm Trọng Nhân và cộng sự (2026). Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 1, trang 81-91.
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các chữ cái a, b, c khác nhau thể hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).