Thi thử tốt nghiệp THPT năm 2026 · Hóa học · Sở GD&ĐT Đồng Nai · Lần 1 · THỬ
Câu 1/40
Bản làm thử: 3 câu đầu miễn phí, đăng ký để làm cả 40 câu.Đăng ký miễn phí
Câu 1
0,25 điểm
Khi đi từ Lithium (Li) đến Cesium (Cs) trong nhóm kim loại kiềm (nhóm IA), tính khử của các nguyên tử kim loại có xu hướng tăng dần. Nguyên nhân chính giải thích cho quy luật này là:
Câu 2
0,25 điểm
Cho các quá trình sau:
(1) $\mathrm{CH_4 + Cl_2 \rightarrow CH_3Cl + HCl}$
(2) $\mathrm{C_3H_8 \rightarrow C_2H_4 + CH_4}$
(3) $\mathrm{CH_4 + 2O_2 \rightarrow CO_2 + 2H_2O}$
(4) $\mathrm{2CH_4 + 3O_2 \rightarrow 2CO + 4H_2O}$
Các quá trình 1, 2, 3, 4 lần lượt thuộc loại phản ứng nào?
Câu 3
0,25 điểm
Phát biểu nào sau đây đúng khi so sánh xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp?
Câu 4
0,25 điểm
Tên gốc – chức của hợp chất $\mathrm{CH_3CH_2NH_2}$ là:
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Bình xịt gây tê trong thể thao là dụng cụ y tế khẩn cấp giúp làm đông lạnh cục bộ, tê liệt dây thần kinh cảm giác để giảm đau, sưng tấy tức thì khi bị va chạm, bong gân hoặc căng cơ. Trong một số bình xịt gây tê, người ta sử dụng một hợp chất hữu cơ X. Chất X là:
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Mùi tanh của cá chủ yếu do các amine (như trimethylamine) gây ra. Để khử mùi tanh này trong quá trình sơ chế, người ta thường dùng giấm ăn (chứa chất X). Lí do là:
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Kim loại nào sau đây có tính dẻo cao nhất, có thể dát thành những màng cực mỏng (đến mức ánh sáng có thể xuyên qua được) và thường được ứng dụng để phủ (thếp) lên bề mặt các tác phẩm mĩ nghệ, tượng hoặc các công trình kiến trúc nhằm mục đích trang trí?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Khi quan sát các vật dụng bằng sắt (thép) như đinh, búa, xẻng để lâu ngoài không khí ẩm, ta thường thấy chúng xuất hiện lớp gỉ màu nâu đỏ, xốp và làm vật dụng trở nên giòn, dễ gãy. Phát biểu nào sau đây trình bày đúng khái niệm về hiện tượng ăn mòn kim loại xảy ra trong ví dụ trên?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Quá trình lưu hoá cao su tự nhiên tạo ra sản phẩm (cao su lưu hoá) có tính đàn hồi, chịu ma sát và chịu nhiệt tốt hơn. Nguyên nhân dẫn đến sự cải thiện tính chất này là do:
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Dựa vào nguồn gốc, các loại tơ được phân chia thành tơ tự nhiên, tơ tổng hợp và tơ bán tổng hợp (tơ nhân tạo). Trong các loại polymer dưới đây, chất nào thuộc loại tơ bán tổng hợp?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Hợp chất của một kim loại nhóm IIA (nhóm kim loại kiềm thổ) được sử dụng rộng rãi làm vật liệu xây dựng (thành phần chính của đá vôi, vỏ sò, xi măng). Nguyên tố kim loại đó là:
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Tiến hành điện phân dung dịch $\mathrm{CuCl_2}$ với các điện cực trơ. Quan sát thấy tại cathode có lớp kim loại bám vào và anode có khí thoát ra. Nhận định nào sau đây mô tả đúng bản chất các quá trình hoá học xảy ra tại các điện cực?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Giá trị pH thích hợp mà tại đó hợp chất amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực và có tổng điện tích bằng không gọi là điểm đẳng điện (pI). Khi pH giảm dần thì dạng ion lưỡng cực chuyển dần thành dạng cation, khi pH tăng dần thì dạng ion lưỡng cực chuyển dần thành dạng anion. Dưới tác dụng của điện trường, các ion di chuyển về các điện cực trái dấu với ion. Một số thông tin về các amino acid cho trong bảng sau:
| Amino acid | Glutamic acid | Alanine | Lysine |
| --- | --- | --- | --- |
| Điểm đẳng điện (pI) | 3,1 | 6,0 | 9,8 |
Phát biểu nào sau đây đúng?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 19 – 22 · chạm để mở lại
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
*Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene $\mathrm{CH_2=CH-CH_3}$, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với $\mathrm{O_2}$ rồi xử lí bằng $\mathrm{H_2SO_4}$, tạo ra phenol và chất A có công thức $\mathrm{CH_3-CO-CH_3}$; hiệu suất giai đoạn $h\%$.*
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Câu 19
0,25 điểm
**Mệnh đề a)** Giá trị của $h$ là 96. (Kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả cuối cùng được làm tròn đến hàng đơn vị).
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 19 – 22 · chạm để mở lại
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
*Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene $\mathrm{CH_2=CH-CH_3}$, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với $\mathrm{O_2}$ rồi xử lí bằng $\mathrm{H_2SO_4}$, tạo ra phenol và chất A có công thức $\mathrm{CH_3-CO-CH_3}$; hiệu suất giai đoạn $h\%$.*
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Câu 20
0,25 điểm
Mệnh đề b) Trong sơ đồ trên, phản ứng giữa cumene và oxygen là phản ứng oxi hóa hoàn toàn.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 19 – 22 · chạm để mở lại
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
*Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene $\mathrm{CH_2=CH-CH_3}$, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với $\mathrm{O_2}$ rồi xử lí bằng $\mathrm{H_2SO_4}$, tạo ra phenol và chất A có công thức $\mathrm{CH_3-CO-CH_3}$; hiệu suất giai đoạn $h\%$.*
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Câu 21
0,25 điểm
Mệnh đề c) Chất A có tên thông thường là propan-2-one.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 19 – 22 · chạm để mở lại
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
*Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene $\mathrm{CH_2=CH-CH_3}$, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với $\mathrm{O_2}$ rồi xử lí bằng $\mathrm{H_2SO_4}$, tạo ra phenol và chất A có công thức $\mathrm{CH_3-CO-CH_3}$; hiệu suất giai đoạn $h\%$.*
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Câu 22
0,25 điểm
**Mệnh đề d)** Do ảnh hưởng của nhóm $-\mathrm{OH}$ nên phản ứng thế nguyên tử hydrogen trên vòng benzene của phenol xảy ra dễ hơn so với benzene.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 23 – 26 · chạm để mở lại
Một học sinh quan sát thấy $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và $\mathrm{CO_2}$ trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
- Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ $\mathrm{NaOH}$, lấy một lượng $\mathrm{NaOH}$ cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
- Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
- Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: $t = 1;\ 5;\ 10;\ 20;\ 30$ và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu $\mathrm{NaOH}$ trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
*Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: $(0;\ 10{,}350)$, $(1;\ 10{,}816)$, $(5;\ 11{,}592)$, $(10;\ 12{,}317)$, $(20;\ 13{,}093)$, $(30;\ 13{,}662)$, $(60;\ 14{,}594)$. Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.*
Tốc độ tăng khối lượng trung bình $=$ (m sau $-$ m trước)/(t sau $-$ t trước) (g/phút).
Câu 23
0,25 điểm
**Mệnh đề a)** Chất rắn màu trắng xuất hiện là muối sinh ra từ phản ứng giữa $\mathrm{NaOH}$ và $\mathrm{CO_2}$.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 23 – 26 · chạm để mở lại
Một học sinh quan sát thấy $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và $\mathrm{CO_2}$ trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
- Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ $\mathrm{NaOH}$, lấy một lượng $\mathrm{NaOH}$ cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
- Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
- Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: $t = 1;\ 5;\ 10;\ 20;\ 30$ và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu $\mathrm{NaOH}$ trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
*Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: $(0;\ 10{,}350)$, $(1;\ 10{,}816)$, $(5;\ 11{,}592)$, $(10;\ 12{,}317)$, $(20;\ 13{,}093)$, $(30;\ 13{,}662)$, $(60;\ 14{,}594)$. Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.*
Tốc độ tăng khối lượng trung bình $=$ (m sau $-$ m trước)/(t sau $-$ t trước) (g/phút).
Câu 24
0,25 điểm
Mệnh đề b) Kết quả thí nghiệm phù hợp với giả thuyết ban đầu của học sinh.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 23 – 26 · chạm để mở lại
Một học sinh quan sát thấy $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và $\mathrm{CO_2}$ trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
- Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ $\mathrm{NaOH}$, lấy một lượng $\mathrm{NaOH}$ cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
- Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
- Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: $t = 1;\ 5;\ 10;\ 20;\ 30$ và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu $\mathrm{NaOH}$ trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
*Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: $(0;\ 10{,}350)$, $(1;\ 10{,}816)$, $(5;\ 11{,}592)$, $(10;\ 12{,}317)$, $(20;\ 13{,}093)$, $(30;\ 13{,}662)$, $(60;\ 14{,}594)$. Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.*
Tốc độ tăng khối lượng trung bình $=$ (m sau $-$ m trước)/(t sau $-$ t trước) (g/phút).
Câu 25
0,25 điểm
**Mệnh đề c)** Trong 5 phút đầu tiên từ lúc bấm giờ, tốc độ tăng khối lượng trung bình của mẫu $\mathrm{NaOH}$ ở thí nghiệm trên là 0,19 g/phút. (Kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả cuối cùng được làm tròn đến hàng phần trăm).
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 23 – 26 · chạm để mở lại
Một học sinh quan sát thấy $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và $\mathrm{CO_2}$ trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu $\mathrm{NaOH}$ để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
- Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ $\mathrm{NaOH}$, lấy một lượng $\mathrm{NaOH}$ cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
- Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
- Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: $t = 1;\ 5;\ 10;\ 20;\ 30$ và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu $\mathrm{NaOH}$ trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
*Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: $(0;\ 10{,}350)$, $(1;\ 10{,}816)$, $(5;\ 11{,}592)$, $(10;\ 12{,}317)$, $(20;\ 13{,}093)$, $(30;\ 13{,}662)$, $(60;\ 14{,}594)$. Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.*
Tốc độ tăng khối lượng trung bình $=$ (m sau $-$ m trước)/(t sau $-$ t trước) (g/phút).
Câu 26
0,25 điểm
**Mệnh đề d)** Ở bước 1, cần lấy $\mathrm{NaOH}$ nhanh chóng và đóng nắp lọ ngay lập tức sau khi lấy xong, nhằm hạn chế tối đa lượng $\mathrm{NaOH}$ còn lại trong lọ hấp thụ nước và $\mathrm{CO_2}$.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 27 – 30 · chạm để mở lại
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica $\mathrm{SiO_2}$. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
| Cặp oxi hóa – khử | $\mathrm{Mg^{2+}/Mg}$ | $\mathrm{Fe^{2+}/Fe}$ | $\mathrm{Sn^{2+}/Sn}$ |
| --- | --- | --- | --- |
| $E^\circ$ (V) | $-2{,}37$ | $-0{,}44$ | $-0{,}14$ |
Câu 27
0,25 điểm
Mệnh đề a) Khi gắn khối Mg vào chân giàn khoan bằng thép, nó sẽ đóng vai trò là cathode và bị oxi hóa thay cho sắt (Fe).
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 27 – 30 · chạm để mở lại
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica $\mathrm{SiO_2}$. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
| Cặp oxi hóa – khử | $\mathrm{Mg^{2+}/Mg}$ | $\mathrm{Fe^{2+}/Fe}$ | $\mathrm{Sn^{2+}/Sn}$ |
| --- | --- | --- | --- |
| $E^\circ$ (V) | $-2{,}37$ | $-0{,}44$ | $-0{,}14$ |
Câu 28
0,25 điểm
Mệnh đề b) Phương pháp bảo vệ bề mặt làm thay đổi thế điện cực chuẩn của kim loại, từ đó hạn chế quá trình oxi hóa xảy ra trên bề mặt kim loại.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 27 – 30 · chạm để mở lại
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica $\mathrm{SiO_2}$. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
| Cặp oxi hóa – khử | $\mathrm{Mg^{2+}/Mg}$ | $\mathrm{Fe^{2+}/Fe}$ | $\mathrm{Sn^{2+}/Sn}$ |
| --- | --- | --- | --- |
| $E^\circ$ (V) | $-2{,}37$ | $-0{,}44$ | $-0{,}14$ |
Câu 29
0,25 điểm
Mệnh đề c) Gắn thiếc (Sn) lên vỏ tàu thép được xem là phương pháp bảo vệ điện hóa giúp ngăn ngừa quá trình ăn mòn kim loại.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 27 – 30 · chạm để mở lại
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica $\mathrm{SiO_2}$. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
| Cặp oxi hóa – khử | $\mathrm{Mg^{2+}/Mg}$ | $\mathrm{Fe^{2+}/Fe}$ | $\mathrm{Sn^{2+}/Sn}$ |
| --- | --- | --- | --- |
| $E^\circ$ (V) | $-2{,}37$ | $-0{,}44$ | $-0{,}14$ |
Câu 30
0,25 điểm
Mệnh đề d) Việc lựa chọn sơn bio-polymer nano thay thế cho các dòng sơn chứa chì hay chromium là một phương án đề xuất phù hợp nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm thứ cấp từ kim loại nặng trong môi trường biển.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 31 – 34 · chạm để mở lại
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
*Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi $\mathrm{C=C}$ dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.*
Câu 31
0,25 điểm
Mệnh đề a) Acid béo thuộc nhóm omega-3 và omega-6 cũng được sinh ra từ phản ứng thủy phân chất béo trong môi trường base.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 31 – 34 · chạm để mở lại
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
*Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi $\mathrm{C=C}$ dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.*
Câu 32
0,25 điểm
Mệnh đề b) Dầu cá chứa nhiều omega-3, còn dầu thực vật như dầu đậu nành chứa chủ yếu omega-6; do đó để phòng bệnh tim mạch, nên ưu tiên dùng dầu cá hoàn toàn thay thế dầu thực vật.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 31 – 34 · chạm để mở lại
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
*Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi $\mathrm{C=C}$ dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.*
Câu 33
0,25 điểm
Mệnh đề c) Trilinolein có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn so với tristearin.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phần thông tin chungNgữ cảnh chung cho câu 31 – 34 · chạm để mở lại
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
*Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi $\mathrm{C=C}$ dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.*
Câu 34
0,25 điểm
**Mệnh đề d)** Chất béo tạo từ gốc acid omega-3 và omega-6 dễ bị oxi hóa trong không khí, tạo các hợp chất có mùi khó chịu do có chứa liên kết đôi $\mathrm{C=C}$.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Để tìm hiểu những điều kiện cần thiết để ăn mòn điện hóa, một học sinh đã thiết lập thí nghiệm như hình sau:
*Bốn ống nghiệm đậy nút, mỗi ống chứa mấy chiếc đinh sắt. Ống A: đinh sắt cắm trong nước cất ở đáy, phần trên tiếp xúc với không khí. Ống B: đinh sắt đặt trên lớp $\mathrm{CaCl_2}$ khan, phía trên là không khí khô. Ống C: đinh sắt ngập trong nước cất đun sôi, trên mặt nước có một lớp dầu hỏa ngăn cách, trên cùng là không khí. Ống D: đinh sắt cắm trong nước biển ở đáy, phía trên chứa khí $\mathrm{O_2}$.*
Có bao nhiêu ống nghiệm chứa đinh sắt sẽ bị gỉ sau vài ngày?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Phương pháp trao đổi ion để làm mềm nước cứng được thực hiện bằng cách cho nước cứng đi qua lớp vật liệu hay màng vật liệu trao đổi ion. Các vật liệu này có chứa cation kim loại, như $\mathrm{Na^+}$. Khi cho nước cứng đi qua vật liệu, các cation $\mathrm{Ca^{2+}}$ và $\mathrm{Mg^{2+}}$ đẩy cation $\mathrm{Na^+}$ ra khỏi vật liệu. Các cation $\mathrm{Ca^{2+}}$ và $\mathrm{Mg^{2+}}$ bị giữ lại trên vật liệu. Thiết bị làm mềm nước cứng (sử dụng vật liệu trao đổi ion) cần thêm $\mathrm{NaCl}$ để thay thế các ion $\mathrm{Ca^{2+}}$ và $\mathrm{Mg^{2+}}$ đang bám trên vật liệu bằng ion $\mathrm{Na^+}$, giúp phục hồi vật liệu để tiếp tục làm mềm nước. $50\ \mathrm{m^3}$ một loại nước cứng đã được loại bỏ hoàn toàn độ cứng bằng cách cho nước chảy qua thiết bị làm mềm nước. Sau đó, thiết bị làm mềm nước cứng này cần 200 lít dung dịch sodium chloride chứa 150 g/lít $\mathrm{NaCl}$ để tái tạo hoàn toàn. Số đơn vị độ cứng của mẫu nước cứng trên là bao nhiêu? (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng đơn vị). Biết một 1 đơn vị độ cứng tương ứng với tổng số mol của các ion $\mathrm{Ca^{2+}}$ và $\mathrm{Mg^{2+}}$ bằng 0,5 mmol trong 1,0 L nước. Giả sử vật liệu trao đổi ion hoạt động với hiệu suất 100%.
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Trong phòng thí nghiệm, để khảo sát phản ứng thủy phân tinh bột, một nhóm học sinh chuẩn bị ba ống nghiệm, mỗi ống chứa khoảng 2 mL dung dịch hồ tinh bột 1% (đánh số 1, 2, 3) và tiến hành thí nghiệm theo các bước sau:
- Bước 1: thêm khoảng 1 mL dung dịch $\mathrm{HCl}$ 1M vào ống nghiệm thứ nhất.
- Bước 2: thêm khoảng 1 mL dung dịch $\mathrm{HCl}$ 2M vào ống nghiệm thứ hai.
- Bước 3: Thêm khoảng 1 mL nước cất vào ống nghiệm thứ ba.
- Bước 4: Lắc đều, rồi đặt cả 3 ống nghiệm trong nồi nước nóng, đun cách thủy trong 10 phút. Sau đó để nguội.
- Bước 5: Chia mỗi ống nghiệm thành hai phần:
- Phần 1: cho tác dụng với dung dịch iodine.
- Phần 2: thêm từng giọt dung dịch $\mathrm{NaOH}$ 1M cho đến môi trường kiềm, sau đó cho 1 ml thuốc thử Tollens vào, đun cách thủy.
Sau thí nghiệm thu được bảng kết quả:
| Ống | $\mathrm{I_2}$ | Tollens |
| --- | --- | --- |
| (1) | xanh tím | có kết tủa bạc |
| (2) | không đổi màu | có kết tủa bạc |
| (3) | xanh tím | không có kết tủa bạc |
Cho các nhận định sau:
(1) Ở ống nghiệm (1), tinh bột chưa bị thủy phân hoàn toàn thành glucose.
(2) Ở ống nghiệm (2), toàn bộ tinh bột đã bị thủy phân hết.
(3) Ở ống nghiệm (3), không có glucose tạo thành.
(4) Sự có mặt của acid làm phản ứng thủy phân xảy ra nhanh hơn.
(5) Dựa vào phản ứng Tollens, có thể kết luận mẫu không còn tinh bột.
Trong các nhận định trên, có bao nhiêu nhận định đúng?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Cho cấu tạo của một đoạn mạch trong phân tử polymer X:
*Đoạn mạch được vẽ là $-\mathrm{CH}(\mathrm{C_6H_5})-\mathrm{CH_2}-\mathrm{CH}(\mathrm{C_6H_5})-\mathrm{CH_2}-\mathrm{CH}(\mathrm{C_6H_5})-\mathrm{CH_2}-\mathrm{CH}(\mathrm{C_6H_5})-\mathrm{CH_2}-\mathrm{CH}(\mathrm{C_6H_5})-\mathrm{CH_2}-$, tức là năm mắt xích giống nhau, mỗi mắt xích gồm một nhóm CH mang vòng benzene nối với một nhóm $\mathrm{CH_2}$.*
Monomer tổng hợp nên polymer X có phân tử khối bằng bao nhiêu amu?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Amine X có công thức phân tử là $\mathrm{C_4H_{11}N}$. Cho X phản ứng với hỗn hợp dung dịch $\mathrm{HCl}$ và $\mathrm{NaNO_2}$ ở nhiệt độ thường thấy có khí không màu thoát ra. Có bao nhiêu công thức cấu tạo phù hợp với X?
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Trinitroglycerin, $\mathrm{C_3H_5N_3O_9}$ (thường gọi đơn giản là nitroglycerin) là chất nổ mạnh được Alfred Nobel chế tạo thành thuốc nổ dynamite vào năm 1866. Điều khá bất ngờ là nó cũng được sử dụng như một loại thuốc, để giảm đau thắt ngực (đau ngực do động mạch đến tim bị tắc một phần) bằng cách làm giãn mạch máu. Ở điều kiện chuẩn, biến thiên enthalpy của phản ứng phân hủy 1 mol trinitroglycerin tạo thành khí nitrogen, khí carbon dioxide, nước lỏng và khí oxygen là $-1541{,}4$ kJ. Để giảm đau thắt ngực, liều chuẩn của trinitroglycerin là 0,60 mg. Nếu liều chuẩn của trinitroglycerin bị phân hủy hoàn toàn trong cơ thể theo phản ứng phân hủy trên thì năng lượng được giải phóng là bao nhiêu J? (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng phần mười).
Câu này nằm trong bản đầy đủ
Đăng ký miễn phí để làm cả 40 câu, AI chấm và phân tích ngay.
Cho các quá trình sau:
(1) CH4+Cl2→CH3Cl+HCl
(2) C3H8→C2H4+CH4
(3) CH4+2O2→CO2+2H2O
(4) 2CH4+3O2→2CO+4H2O
Các quá trình 1, 2, 3, 4 lần lượt thuộc loại phản ứng nào?
Tên gốc – chức của hợp chất CH3CH2NH2 là:
Tiến hành điện phân dung dịch CuCl2 với các điện cực trơ. Quan sát thấy tại cathode có lớp kim loại bám vào và anode có khí thoát ra. Nhận định nào sau đây mô tả đúng bản chất các quá trình hoá học xảy ra tại các điện cực?
Giá trị pH thích hợp mà tại đó hợp chất amino acid tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực và có tổng điện tích bằng không gọi là điểm đẳng điện (pI). Khi pH giảm dần thì dạng ion lưỡng cực chuyển dần thành dạng cation, khi pH tăng dần thì dạng ion lưỡng cực chuyển dần thành dạng anion. Dưới tác dụng của điện trường, các ion di chuyển về các điện cực trái dấu với ion. Một số thông tin về các amino acid cho trong bảng sau:
Amino acid
Glutamic acid
Alanine
Lysine
Điểm đẳng điện (pI)
3,1
6,0
9,8
Phát biểu nào sau đây đúng?
Phát biểu nào sau đây đúng về tính chất của amoniac (NH3)?
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene CH2=CH−CH3, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với O2 rồi xử lí bằng H2SO4, tạo ra phenol và chất A có công thức CH3−CO−CH3; hiệu suất giai đoạn h%.
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Mệnh đề a) Giá trị của h là 96. (Kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả cuối cùng được làm tròn đến hàng đơn vị).
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene CH2=CH−CH3, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với O2 rồi xử lí bằng H2SO4, tạo ra phenol và chất A có công thức CH3−CO−CH3; hiệu suất giai đoạn h%.
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene CH2=CH−CH3, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với O2 rồi xử lí bằng H2SO4, tạo ra phenol và chất A có công thức CH3−CO−CH3; hiệu suất giai đoạn h%.
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Trong công nghiệp, phần lớn phenol và chất A được sản xuất theo sơ đồ sau:
Sơ đồ hai giai đoạn. Giai đoạn một: benzene cộng với propylene CH2=CH−CH3, có xúc tác, nhiệt độ và áp suất, tạo ra cumene (isopropylbenzene); hiệu suất giai đoạn 95%. Giai đoạn hai: cumene tác dụng với O2 rồi xử lí bằng H2SO4, tạo ra phenol và chất A có công thức CH3−CO−CH3; hiệu suất giai đoạn h%.
Để sản xuất 650 000 tấn phenol theo sơ đồ trên, nhà máy cần sử dụng 590 000 tấn benzene làm nguyên liệu đầu vào.
Mệnh đề d) Do ảnh hưởng của nhóm −OH nên phản ứng thế nguyên tử hydrogen trên vòng benzene của phenol xảy ra dễ hơn so với benzene.
Một học sinh quan sát thấy NaOH để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và CO2 trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu NaOH để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ NaOH, lấy một lượng NaOH cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: t=1;5;10;20;30 và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu NaOH trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: (0;10,350), (1;10,816), (5;11,592), (10;12,317), (20;13,093), (30;13,662), (60;14,594). Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.
Tốc độ tăng khối lượng trung bình = (m sau − m trước)/(t sau − t trước) (g/phút).
Mệnh đề a) Chất rắn màu trắng xuất hiện là muối sinh ra từ phản ứng giữa NaOH và CO2.
Một học sinh quan sát thấy NaOH để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và CO2 trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu NaOH để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ NaOH, lấy một lượng NaOH cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: t=1;5;10;20;30 và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu NaOH trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: (0;10,350), (1;10,816), (5;11,592), (10;12,317), (20;13,093), (30;13,662), (60;14,594). Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.
Tốc độ tăng khối lượng trung bình = (m sau − m trước)/(t sau − t trước) (g/phút).
Một học sinh quan sát thấy NaOH để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và CO2 trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu NaOH để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ NaOH, lấy một lượng NaOH cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: t=1;5;10;20;30 và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu NaOH trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: (0;10,350), (1;10,816), (5;11,592), (10;12,317), (20;13,093), (30;13,662), (60;14,594). Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.
Tốc độ tăng khối lượng trung bình = (m sau − m trước)/(t sau − t trước) (g/phút).
Mệnh đề c) Trong 5 phút đầu tiên từ lúc bấm giờ, tốc độ tăng khối lượng trung bình của mẫu NaOH ở thí nghiệm trên là 0,19 g/phút. (Kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, chỉ kết quả cuối cùng được làm tròn đến hàng phần trăm).
Một học sinh quan sát thấy NaOH để ngoài không khí bị chảy rữa, sau đó xuất hiện lớp chất rắn màu trắng. Học sinh này tìm hiểu được hiện tượng này là do việc hấp thu nước và CO2 trong không khí.
Học sinh đặt ra giả thuyết: "khối lượng của mẫu NaOH để ngoài không khí tăng với tốc độ không đổi theo thời gian". Để kiểm chứng giả thuyết học sinh tiến hành thí nghiệm như sau:
Bước 1: Đặt đĩa thủy tinh lên cân và trừ bì về 0. Mở lọ NaOH, lấy một lượng NaOH cho vào đĩa thấy cân hiển thị đúng 10,350 gam.
Bước 2: Ngay khi cân xong ở bước 1, bắt đầu bấm giờ.
Bước 3: Đặt đĩa thủy tinh lên cân để ghi lại khối lượng tại các thời điểm: t=1;5;10;20;30 và 60 phút. Quan sát sự thay đổi vật lý của mẫu NaOH trong đĩa thủy tinh. Từ kết quả thu được học sinh vẽ đồ thị như sau:
Đồ thị "Sự thay đổi khối lượng NaOH theo thời gian" với trục hoành là thời gian t (phút) và trục tung là khối lượng m (gam). Các điểm được ghi nhãn: (0;10,350), (1;10,816), (5;11,592), (10;12,317), (20;13,093), (30;13,662), (60;14,594). Đường nối các điểm đi lên nhưng càng về sau càng thoải dần.
Tốc độ tăng khối lượng trung bình = (m sau − m trước)/(t sau − t trước) (g/phút).
Mệnh đề d) Ở bước 1, cần lấy NaOH nhanh chóng và đóng nắp lọ ngay lập tức sau khi lấy xong, nhằm hạn chế tối đa lượng NaOH còn lại trong lọ hấp thụ nước và CO2.
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica SiO2. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
Cặp oxi hóa – khử
Mg2+/Mg
Fe2+/Fe
Sn2+/Sn
E∘ (V)
−2,37
−0,44
−0,14
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica SiO2. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
Cặp oxi hóa – khử
Mg2+/Mg
Fe2+/Fe
Sn2+/Sn
E∘ (V)
−2,37
−0,44
−0,14
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica SiO2. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
Cặp oxi hóa – khử
Mg2+/Mg
Fe2+/Fe
Sn2+/Sn
E∘ (V)
−2,37
−0,44
−0,14
Thép là hợp kim của sắt (Fe) và carbon, vốn dễ bị ăn mòn khi tiếp xúc với nước biển giàu oxy và muối. Để bảo vệ thép, người ta thường dùng phương pháp điện hóa (gắn khối Mg làm vật hy sinh) hoặc sơn phủ bề mặt. Tuy nhiên, các loại sơn truyền thống chứa chì (Pb) hoặc chromium (Cr) thường gây độc và tích tụ sinh học trong sinh vật biển. Do đó, xu hướng hiện nay là phát triển sơn bio-polymer từ nguyên liệu tái tạo kết hợp với nano silica SiO2. Loại sơn mới này vừa thân thiện với môi trường, vừa tạo lớp màng ngăn cách có độ bám dính và độ kín khít cao, giúp bảo vệ công trình bền vững hơn.
Bảng: Thế điện cực chuẩn của một số cặp oxi hóa – khử
Cặp oxi hóa – khử
Mg2+/Mg
Fe2+/Fe
Sn2+/Sn
E∘ (V)
−2,37
−0,44
−0,14
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi C=C dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi C=C dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi C=C dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.
Omega-3 và omega-6 là hai nhóm acid béo không no thiết yếu, cơ thể người không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Omega-3 có nhiều trong dầu cá, dầu hạt lanh; omega-6 có nhiều trong dầu đậu nành, dầu hướng dương. Trong cơ thể, chất béo được thủy phân nhờ enzyme lipase, giải phóng acid béo tự do. Việc cân bằng tỉ lệ omega-6 và omega-3 trong khẩu phần ăn có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống viêm nhiễm và bệnh tim mạch. Dưới đây là cấu trúc của hai phân tử chất béo tiêu biểu: một chất béo không no được tạo thành từ acid béo omega-6, và một chất béo no được tạo thành từ acid béo no:
Hình vẽ hai công thức cấu tạo. Trilinolein là triester của glycerol với ba gốc linoleic, mỗi gốc còn hai liên kết đôi C=C dạng cis nên mạch gấp khúc. Tristearin là triester của glycerol với ba gốc stearic no, mạch thẳng và duỗi.
Mệnh đề d) Chất béo tạo từ gốc acid omega-3 và omega-6 dễ bị oxi hóa trong không khí, tạo các hợp chất có mùi khó chịu do có chứa liên kết đôi C=C.
Để tìm hiểu những điều kiện cần thiết để ăn mòn điện hóa, một học sinh đã thiết lập thí nghiệm như hình sau:
Bốn ống nghiệm đậy nút, mỗi ống chứa mấy chiếc đinh sắt. Ống A: đinh sắt cắm trong nước cất ở đáy, phần trên tiếp xúc với không khí. Ống B: đinh sắt đặt trên lớp CaCl2 khan, phía trên là không khí khô. Ống C: đinh sắt ngập trong nước cất đun sôi, trên mặt nước có một lớp dầu hỏa ngăn cách, trên cùng là không khí. Ống D: đinh sắt cắm trong nước biển ở đáy, phía trên chứa khí O2.
Có bao nhiêu ống nghiệm chứa đinh sắt sẽ bị gỉ sau vài ngày?
Phương pháp trao đổi ion để làm mềm nước cứng được thực hiện bằng cách cho nước cứng đi qua lớp vật liệu hay màng vật liệu trao đổi ion. Các vật liệu này có chứa cation kim loại, như Na+. Khi cho nước cứng đi qua vật liệu, các cation Ca2+ và Mg2+ đẩy cation Na+ ra khỏi vật liệu. Các cation Ca2+ và Mg2+ bị giữ lại trên vật liệu. Thiết bị làm mềm nước cứng (sử dụng vật liệu trao đổi ion) cần thêm NaCl để thay thế các ion Ca2+ và Mg2+ đang bám trên vật liệu bằng ion Na+, giúp phục hồi vật liệu để tiếp tục làm mềm nước. 50m3 một loại nước cứng đã được loại bỏ hoàn toàn độ cứng bằng cách cho nước chảy qua thiết bị làm mềm nước. Sau đó, thiết bị làm mềm nước cứng này cần 200 lít dung dịch sodium chloride chứa 150 g/lít NaCl để tái tạo hoàn toàn. Số đơn vị độ cứng của mẫu nước cứng trên là bao nhiêu? (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng đơn vị). Biết một 1 đơn vị độ cứng tương ứng với tổng số mol của các ion Ca2+ và Mg2+ bằng 0,5 mmol trong 1,0 L nước. Giả sử vật liệu trao đổi ion hoạt động với hiệu suất 100%.
Trong phòng thí nghiệm, để khảo sát phản ứng thủy phân tinh bột, một nhóm học sinh chuẩn bị ba ống nghiệm, mỗi ống chứa khoảng 2 mL dung dịch hồ tinh bột 1% (đánh số 1, 2, 3) và tiến hành thí nghiệm theo các bước sau:
Bước 1: thêm khoảng 1 mL dung dịch HCl 1M vào ống nghiệm thứ nhất.
Bước 2: thêm khoảng 1 mL dung dịch HCl 2M vào ống nghiệm thứ hai.
Bước 3: Thêm khoảng 1 mL nước cất vào ống nghiệm thứ ba.
Bước 4: Lắc đều, rồi đặt cả 3 ống nghiệm trong nồi nước nóng, đun cách thủy trong 10 phút. Sau đó để nguội.
Bước 5: Chia mỗi ống nghiệm thành hai phần:
Phần 1: cho tác dụng với dung dịch iodine.
Phần 2: thêm từng giọt dung dịch NaOH 1M cho đến môi trường kiềm, sau đó cho 1 ml thuốc thử Tollens vào, đun cách thủy.
Sau thí nghiệm thu được bảng kết quả:
Ống
I2
Tollens
(1)
xanh tím
có kết tủa bạc
(2)
không đổi màu
có kết tủa bạc
(3)
xanh tím
không có kết tủa bạc
Cho các nhận định sau:
(1) Ở ống nghiệm (1), tinh bột chưa bị thủy phân hoàn toàn thành glucose.
(2) Ở ống nghiệm (2), toàn bộ tinh bột đã bị thủy phân hết.
(3) Ở ống nghiệm (3), không có glucose tạo thành.
(4) Sự có mặt của acid làm phản ứng thủy phân xảy ra nhanh hơn.
(5) Dựa vào phản ứng Tollens, có thể kết luận mẫu không còn tinh bột.
Trong các nhận định trên, có bao nhiêu nhận định đúng?
Cho cấu tạo của một đoạn mạch trong phân tử polymer X:
Đoạn mạch được vẽ là −CH(C6H5)−CH2−CH(C6H5)−CH2−CH(C6H5)−CH2−CH(C6H5)−CH2−CH(C6H5)−CH2−, tức là năm mắt xích giống nhau, mỗi mắt xích gồm một nhóm CH mang vòng benzene nối với một nhóm CH2.
Monomer tổng hợp nên polymer X có phân tử khối bằng bao nhiêu amu?
Amine X có công thức phân tử là C4H11N. Cho X phản ứng với hỗn hợp dung dịch HCl và NaNO2 ở nhiệt độ thường thấy có khí không màu thoát ra. Có bao nhiêu công thức cấu tạo phù hợp với X?
Trinitroglycerin, C3H5N3O9 (thường gọi đơn giản là nitroglycerin) là chất nổ mạnh được Alfred Nobel chế tạo thành thuốc nổ dynamite vào năm 1866. Điều khá bất ngờ là nó cũng được sử dụng như một loại thuốc, để giảm đau thắt ngực (đau ngực do động mạch đến tim bị tắc một phần) bằng cách làm giãn mạch máu. Ở điều kiện chuẩn, biến thiên enthalpy của phản ứng phân hủy 1 mol trinitroglycerin tạo thành khí nitrogen, khí carbon dioxide, nước lỏng và khí oxygen là −1541,4 kJ. Để giảm đau thắt ngực, liều chuẩn của trinitroglycerin là 0,60 mg. Nếu liều chuẩn của trinitroglycerin bị phân hủy hoàn toàn trong cơ thể theo phản ứng phân hủy trên thì năng lượng được giải phóng là bao nhiêu J? (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng phần mười).