Đây là bản xem thử. Bản đầy đủ trên app có thêm bài tập, AI chấm điểm tức thì và biểu đồ theo dõi tiến độ học.

Phần

Đếm tiếng, dò vần và gọi đúng tên thể lục bát

Mục tiêu bài học

Sau bài này, em xác định được thể lục bát bằng hai căn cứ là số tiếng và cách gieo vần.

Kiến thức cần có

Cần biết đếm tiếng trong một dòng thơ và khái niệm vần đã học ở tiểu học.

Khoá trước là bộ công cụ đọc truyện. Thơ cần bộ khác, vì thơ không kể bằng sự việc mà nói bằng âm thanh và hình ảnh. Đề hỏi khá cố định: thể thơ gì, gieo vần ra sao, ngắt nhịp thế nào, hình ảnh nào đáng chú ý, biện pháp tu từ và tác dụng, cuối cùng là cảm xúc và chủ đề.

Câu hỏi mở đầu

Hai đoạn thơ cùng nói về quê. Một đoạn dòng sáu rồi dòng tám, một đoạn dòng nào cũng năm tiếng. Vì sao chỉ một trong hai được gọi là lục bát?

Ý tưởng cốt lõi

**Lục bát** là thể thơ dân tộc, tên gọi lấy luôn từ số tiếng: *lục* là sáu, *bát* là tám. Một dòng sáu tiếng rồi một dòng tám tiếng, cứ thế lặp lại. Nhưng số tiếng mới là nửa câu chuyện. Cái làm lục bát nghe liền mạch như lời ru là **cách gieo vần**, và lục bát có hai chỗ gieo vần: **Vần lưng.** Tiếng cuối của dòng sáu vần với **tiếng thứ sáu** của dòng tám ngay sau nó. Gọi là vần lưng vì nó rơi vào giữa dòng chứ không ở cuối dòng. **Vần chân.** Tiếng cuối của dòng tám vần với **tiếng cuối** của dòng sáu tiếp theo. Hai loại vần ấy móc vào nhau như mắt xích, nên bài lục bát đọc đến đâu cũng thấy dính liền, không rời rạc. Một điều cần biết để khỏi bắt lỗi oan: hai tiếng gieo vần **không cần cùng dấu thanh**, chỉ cần cùng vần và cùng thuộc thanh bằng, tức là thanh ngang hoặc thanh huyền.
Bốn bước xác định thể lục bát: đếm tiếng, dò vần lưng, dò vần chân, rồi kết luận.1Đếm tiếng vàidòng đầu6 rồi 8, lặp đều đặnthì mới xét tiếp2Dò vần lưngtiếng cuối dòng sáuvần với tiếng thứ 6dòng tám3Dò vần chântiếng cuối dòng támvần với tiếng cuốidòng sáu sau4Kết luận có căncứnêu cả số tiếng lẫncặp vần cụ thể
Đếm tiếng cho câu trả lời nhanh; dò vần mới cho câu trả lời chắc.

Đào sâu mô hình

Đọc bốn dòng sau, viết riêng cho khoá học: > Chiều về bến cũ còn thơm > > Mùi rơm mới gặt ai đơm đầy bồ > > Con đò buộc dưới gốc ngô > > Lắng nghe con nước vỗ xô mạn thuyền Đếm tiếng: sáu, tám, sáu, tám. Đúng khuôn lục bát. Giờ dò vần, đây mới là phần được điểm. **Vần lưng thứ nhất.** Tiếng cuối dòng một là "thơm". Đếm sang dòng hai tới tiếng thứ sáu: *Mùi (1), rơm (2), mới (3), gặt (4), ai (5), đơm (6)*. Tiếng thứ sáu là "đơm". Thơm vần với đơm, cùng vần "ơm". **Vần chân.** Tiếng cuối dòng hai là "bồ", tiếng cuối dòng ba là "ngô". Bồ vần với ngô, cùng vần "ô". Ở đây "bồ" mang thanh huyền còn "ngô" thanh ngang, hai thanh khác nhau nhưng cùng là thanh bằng nên vẫn vần với nhau bình thường. **Vần lưng thứ hai.** Tiếng cuối dòng ba là "ngô". Tiếng thứ sáu dòng bốn: *Lắng (1), nghe (2), con (3), nước (4), vỗ (5), xô (6)*. Là "xô". Ngô vần với xô. Ba cặp vần ấy khớp đủ. Kết luận: đoạn thơ là lục bát, và em có căn cứ chắc chứ không đoán.
Ca dao dân gian phần lớn cũng làm theo lục bát, vì thể này dễ nhớ và dễ hát. Thử luôn hai câu quen thuộc: > Trâu ơi ta bảo trâu này > > Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Sáu tiếng rồi tám tiếng. Tiếng cuối dòng sáu là "này"; tiếng thứ sáu của dòng tám là "cày". Này vần với cày, đúng vần lưng. Vì thế khi đề cho một đoạn ca dao rồi hỏi thể thơ, em vẫn dùng đúng bốn bước ấy. Ca dao không phải một thể thơ riêng: ca dao là thơ dân gian truyền miệng, và đa số ca dao Việt Nam làm bằng lục bát.
Hai chỗ dễ bắt lỗi oan. Thứ nhất, đừng đòi hai tiếng gieo vần phải cùng dấu thanh. "Bồ" và "ngô" khác dấu nhưng vẫn vần, vì cả hai đều là thanh bằng. Thứ hai, nếu đoạn thơ in liền hai dòng dài thay vì xuống dòng, em vẫn phải tách theo đúng cụm sáu và tám tiếng rồi mới đếm, chứ đừng vội kết luận là thơ tự do vì thấy dòng in dài.
Vì sao phải dò cả vần chứ không chỉ đếm tiếng

Đếm tiếng cho câu trả lời nhanh, dò vần cho câu trả lời chắc. Có những đoạn văn xuôi ngắt dòng thành 6 và 8 tiếng nhưng không hề gieo vần; đó không phải lục bát. Vì thế đề lớp 6 hay kèm chữ nêu căn cứ, và bài nào nêu được cả hai căn cứ thì gần như chắc điểm.

Ví dụ
Xác định thể thơ và nêu đủ hai căn cứ
  1. 1

    Đoạn thơ Chiều về bến cũ còn thơm… được viết theo thể thơ nào? Nêu căn cứ.

  2. 2

    Câu nhận biết, 0,5 đến 1 điểm. Phần căn cứ mới là phần được điểm.

  3. 3

    Đếm tiếng bốn dòng, rồi dò một cặp vần lưng và một cặp vần chân. Có hai loại căn cứ là đủ chắc.

  4. 4
    Đoạn thơ được viết theo thể lục bát. Căn cứ thứ nhất là số tiếng: các dòng lần lượt có sáu, tám, sáu, tám tiếng, xen kẽ đều đặn. Căn cứ thứ hai là cách gieo vần đúng luật lục bát. Vần lưng: tiếng cuối dòng sáu "thơm" vần với tiếng thứ sáu của dòng tám "đơm". Vần chân: tiếng cuối dòng tám "bồ" vần với tiếng cuối dòng sáu tiếp theo "ngô". Hai căn cứ này khớp nhau nên có thể khẳng định đoạn thơ là lục bát chứ không phải thơ tự do ngắt dòng.
  5. 5

    Có hai căn cứ độc lập, mỗi căn cứ chỉ đúng tiếng cụ thể, và câu cuối loại trừ khả năng dễ nhầm.

  6. 6

    Trả lời "thể lục bát" rồi dừng, hoặc chỉ nêu số tiếng mà bỏ phần vần.

Ví dụ
Bác bỏ một kết luận sai về vần
  1. 1

    Một bạn cho rằng đoạn thơ trên gieo vần sai, vì "bồ" có dấu huyền còn "ngô" không dấu. Em có đồng ý không?

  2. 2

    Câu vận dụng, khoảng 1 điểm. Đề đưa một lập luận sai để xem em có nắm đúng luật vần không.

  3. 3

    Xác định điều bạn hiểu nhầm, phát biểu lại luật cho đúng, rồi lấy chính đoạn thơ làm ví dụ.

  4. 4
    Em không đồng ý với ý kiến đó. Bạn đã hiểu nhầm về điều kiện gieo vần. Hai tiếng gieo vần trong lục bát không cần cùng dấu thanh; điều kiện là chúng cùng vần và cùng thuộc thanh bằng, tức thanh ngang hoặc thanh huyền. Ở đây "bồ" mang thanh huyền và "ngô" mang thanh ngang. Hai thanh này khác dấu nhưng đều là thanh bằng, và cả hai cùng vần "ô". Vì vậy cặp bồ và ngô gieo vần hoàn toàn đúng luật. Có thể thấy điều tương tự trong nhiều câu ca dao quen thuộc, nơi tiếng thanh huyền vẫn vần bình thường với tiếng thanh ngang.
  5. 5

    Gọi tên đúng chỗ bạn nhầm, phát biểu lại luật đầy đủ, rồi chứng minh ngay trên ngữ liệu của đề.

  6. 6

    Chỉ viết "không đồng ý vì hai tiếng đó vẫn vần" mà không nói ra điều kiện gieo vần là gì.

Luyện tập có hướng dẫn

Tự luyện và kiểm tra nhanh

Lỗi thường gặp

Đừng đòi hai tiếng gieo vần phải cùng dấu thanh, chỉ cần cùng vần và cùng thanh bằng. Và đừng gọi tên thể thơ xong là dừng khi đề còn hỏi căn cứ.

Chốt bài: Em đã xác định được thể lục bát bằng hai căn cứ là số tiếng và cách gieo vần. Vần làm bài thơ dính liền, còn nhịp làm bài thơ có hơi thở; bài sau nói về nhịp.