Đây là bản xem thử. Bản đầy đủ trên app có thêm bài tập, AI chấm điểm tức thì và biểu đồ theo dõi tiến độ học.
Phần
Đề tỉnh số 1: đọc hiểu, nhận định viết và nhật ký lỗi sai
Mục tiêu
Sau bài học này, em hoàn thành hai phần còn lại của đề tỉnh số 1 (đọc hiểu và nhận định viết), và quan trọng hơn, em lập được bảng nhật ký lỗi sai phân loại theo kỹ năng cho cả đề: mỗi câu sai được gắn nhãn kỹ năng và nối về đúng khóa học đã dạy kỹ năng đó.
Kiến thức nền cần có
Bài này dùng kỹ thuật đọc hiểu lập luận của Khóa 5 (xác định luận điểm, suy luận xuyên đoạn, thái độ tác giả), kỹ thuật phân tích nhiễu của Khóa 1 cho các phương án đọc hiểu, và bốn tiêu chí viết luận của Khóa 6 cho phần nhận định viết. Không kỹ thuật nào trong số đó được dạy lại ở đây; nếu em quên cách bắt giọng điệu tác giả, mở lại Khóa 5 trước. Cái mới của bài là bảng nhật ký lỗi sai, phần nối dài của vòng luyện đề bốn bước ở bài trước.
Phần D: đọc hiểu
Read the passage, then answer the four questions that follow.
When Britain's national museums abolished entry charges in 2001, visitor numbers rose sharply, and the policy has been celebrated ever since as a triumph of democratic access. Its defenders argue that a collection held in the public's name should never sit behind a till.
Critics counter that the subsidy flows to the wrong pockets. A large share of visitors to the great London museums are foreign tourists who could comfortably pay, while the taxpayers footing the bill may live hundreds of miles from the nearest beneficiary. Some also note that attendance figures count visits, not visitors: a small number of enthusiasts returning weekly can flatter the statistics.
Yet the strongest evidence cuts the other way. Surveys since 2001 record a modest but steady rise in first-time visitors from lower-income households, precisely the group that charges used to deter. Free entry has not transformed who walks through the doors, and it would be dishonest to claim otherwise, but it has widened the doorway. That, on balance, seems worth the cost.
Phần E: nhận định viết
Đề tỉnh chấm bài viết bằng bốn tiêu chí em đã học ở Khóa 6: bố cục và luận điểm, phát triển ý bằng bằng chứng, liên kết, và văn phong học thuật. Hai câu dưới đây kiểm tra khả năng em áp bốn tiêu chí đó vào bài của người khác, đúng thao tác giám khảo làm, và cũng là thao tác em cần làm với bài của chính mình khi tự luyện.
Công cụ mới: bảng nhật ký lỗi sai theo kỹ năng
Mở rộng dành cho HSG: nhật ký lỗi sai theo kỹ năng
Nhật ký lỗi sai (error log) không thuộc yêu cầu chuẩn lớp 12; đây là kỹ năng tự huấn luyện mức HSG. Với mỗi câu sai, em ghi bốn cột: câu hỏi thuộc phần nào của đề, kỹ năng thật sự bị hụt là gì, vì sao phương án em chọn sai, và khóa học nào của lộ trình dạy kỹ năng đó. Cột thứ hai là cột khó nhất: một câu nằm ở phần điền từ nhưng lỗi có thể là collocation (Khóa 3), không phải đọc hiểu. Phân loại theo kỹ năng bị hụt, không phân loại theo vị trí câu hỏi trên đề.
Bốn nhãn kỹ năng của nhật ký lỗi sai. Mỗi câu sai trong đề tỉnh số 1 phải rơi vào đúng một ô.
Ví dụ
Câu D2: suy luận từ một cụm bốn từ và cách ghi nhật ký cho câu đúng nhờ may mắn
1
Câu hỏi trông như câu suy luận xuyên đoạn quen thuộc của Khóa 5, nhưng bằng chứng thật chỉ là bốn từ "charges used to deter" nằm cuối một câu dài về khảo sát. Đề chuẩn nêu bằng chứng thành câu riêng; đề HSG giấu nó trong một mệnh đề phụ.
2
Câu hỏi về quá khứ ("before 2001") nhưng cả bài viết về hiện tại. Khi đề hỏi về một thời điểm bài gần như không bàn tới, manh mối thường nằm trong một cụm so sánh hoặc một động từ chỉ thói quen cũ như "used to".
3
Phản xạ của Khóa 5 là gạch chân các cụm chỉ thời gian khi đọc lần đầu. Trong bài chỉ có một cụm nói về trước 2001 ở thể quá khứ: "the group that charges used to deter". Câu hỏi buộc phải neo vào đó vì không còn chỗ nào khác.
4
Trích bằng chứng: "first-time visitors from lower-income households, precisely the group that charges used to deter". Xét (b): bài nói du khách nước ngoài hưởng miễn phí ngày nay, không nói gì về việc họ trả vé trước 2001, loại vì ngoài phạm vi. Xét (c): mâu thuẫn trực tiếp với "used to deter", loại. Xét (d): bảo tàng địa phương không xuất hiện ở câu nào, loại vì bịa thêm thông tin. Vậy đáp án đúng là (a).
5
Câu hỏi về thời điểm nằm ngoài trọng tâm của bài luôn có một cụm neo duy nhất trong văn bản. Tìm cụm neo trước, đối chiếu bốn phương án sau, đừng làm ngược lại.
6
Khi ghi nhật ký, câu này còn dạy một điều: nếu em chọn đúng (a) nhưng chỉ vì nó "nghe hợp lý" chứ không trích được cụm "used to deter", hãy vẫn ghi nó vào nhật ký với nhãn "đọc hiểu, suy luận có bằng chứng" kèm ghi chú "đúng nhưng chưa có bằng chứng". Câu đúng nhờ cảm giác là câu sẽ sai ở đề sau.
Ví dụ
Câu D4: bắt thái độ tác giả bằng chuỗi tín hiệu nhượng bộ
1
Tác giả không dùng từ cảm xúc nào lộ liễu. Thái độ phải được ráp từ ba tín hiệu rải ở ba câu khác nhau, trong khi đề chuẩn thường phát tín hiệu ngay trong một câu bằng tính từ rõ nghĩa.
2
Thái độ "ủng hộ thận trọng" luôn để lại dấu vết kép: một hướng khen (worth the cost) cộng một chuỗi giới hạn mức khen (modest, on balance, it would be dishonest to claim otherwise). Phải bắt được cả hai nửa; chỉ thấy nửa khen sẽ chọn nhầm "nhiệt thành", chỉ thấy nửa giới hạn sẽ chọn nhầm "trung lập".
3
Khóa 5 dạy: với câu attitude, gom tất cả trạng từ, tính từ đánh giá và cụm nhượng bộ trước khi nhìn phương án. Danh sách gom được ở đây tự nó đã là đáp án: khen có điều kiện.
4
Trích bằng chứng: "a modest but steady rise", "it would be dishonest to claim otherwise", "on balance, seems worth the cost". Xét (b) openly hostile: kết luận nghiêng về giữ chính sách, loại. Xét (c) entirely neutral: "seems worth the cost" là một phán quyết, người trung lập không phán quyết, loại. Xét (d) unreservedly enthusiastic: chuỗi nhượng bộ chính là "reservation", loại. Vậy đáp án đúng là (a).
5
Cặp phương án gây nhiễu của câu attitude luôn là hai thái cực cùng phía: nhiệt thành vô điều kiện đối đầu với ủng hộ thận trọng. Chuỗi cụm nhượng bộ là trọng tài giữa hai phương án đó.
6
Nếu đoạn cuối kết bằng "whether that justifies the cost is a question for the Treasury, not for this column" thì đáp án đổi sang trung lập có chủ ý: tác giả từ chối phán quyết. Một câu cuối đổi cả đáp án attitude, nên đừng bao giờ chốt thái độ trước khi đọc câu chốt của bài.
Ví dụ
Lập ba dòng nhật ký lỗi sai mẫu cho đề tỉnh số 1
1
Một bạn làm đề tỉnh số 1 sai ba câu: câu B2 (chọn "Were it not for"), câu C2 (chọn "earn"), câu D4 (chọn "entirely neutral"). Lập ba dòng nhật ký lỗi sai đúng chuẩn bốn cột.
2
Phần: từ vựng ngữ pháp. Kỹ năng hụt: khung thời gian của giả định đảo ngữ, không phải "không biết cấu trúc" vì bạn ấy đã nhận ra dạng đảo. Vì sao sai: chỉ kiểm tra ngữ pháp của cụm đầu câu mà không đối chiếu "would have stalled years ago". Khóa cần ôn: Khóa 2, chương câu giả định và cấu trúc giả thuyết.
3
Phần: điền từ. Kỹ năng hụt: collocation với danh từ results; đây là lỗi từ vựng dù câu nằm trong phần điền từ, đúng nguyên tắc phân loại theo kỹ năng chứ không theo vị trí. Vì sao sai: dịch bốn động từ sang tiếng Việt rồi chọn theo nghĩa gần nhất. Khóa cần ôn: Khóa 3, chương collocation học thuật.
4
Phần: đọc hiểu. Kỹ năng hụt: bắt chuỗi tín hiệu nhượng bộ khi xác định thái độ. Vì sao sai: thấy tác giả có nhượng bộ nên tưởng là trung lập, bỏ sót phán quyết "worth the cost". Khóa cần ôn: Khóa 5, bài suy luận sâu và thái độ tác giả.
5
Ba dòng cho thấy điểm mạnh của nhật ký: ba câu sai nằm ở ba phần khác nhau của đề nhưng quy về ba khóa học cụ thể, nên kế hoạch ôn tuần tới tự hiện ra từ bảng. Vậy sản phẩm cuối của một vòng luyện không phải điểm số, mà là bảng nhật ký này.
Bẫy thường gặp
Lỗi phân loại phổ biến nhất: gắn nhãn theo vị trí câu trên đề thay vì theo kỹ năng bị hụt. Một câu điền từ sai vì collocation phải mang nhãn từ vựng; một câu đọc hiểu sai vì không biết nghĩa thành ngữ trong phương án phải mang nhãn từ vựng, không phải đọc hiểu. Nhãn sai dẫn đến ôn sai khóa, và tuần ôn đó coi như mất.
Đề tỉnh số 1 khép lại với một bảng nhật ký lỗi sai hoàn chỉnh cho cả năm phần. Chương sau em làm đề tỉnh số 2, nhưng trọng tâm dịch chuyển: không chỉ làm đúng, mà làm đúng trong đúng quỹ thời gian, với ngân sách 120 phút được chia trước cho từng phần và các mốc kiểm soát giữa giờ.
Bài này dùng kỹ thuật đọc hiểu lập luận của Khóa 5 (xác định luận điểm, suy luận xuyên đoạn, thái độ tác giả), kỹ thuật phân tích nhiễu của Khóa 1 cho các phương án đọc hiểu, và bốn tiêu chí viết luận của Khóa 6 cho phần nhận định viết. Không kỹ thuật nào trong số đó được dạy lại ở đây; nếu em quên cách bắt giọng điệu tác giả, mở lại Khóa 5 trước. Cái mới của bài là bảng nhật ký lỗi sai, phần nối dài của vòng luyện đề bốn bước ở bài trước.
Read the passage, then answer the four questions that follow.
When Britain's national museums abolished entry charges in 2001, visitor numbers rose sharply, and the policy has been celebrated ever since as a triumph of democratic access. Its defenders argue that a collection held in the public's name should never sit behind a till.
Critics counter that the subsidy flows to the wrong pockets. A large share of visitors to the great London museums are foreign tourists who could comfortably pay, while the taxpayers footing the bill may live hundreds of miles from the nearest beneficiary. Some also note that attendance figures count visits, not visitors: a small number of enthusiasts returning weekly can flatter the statistics.
Yet the strongest evidence cuts the other way. Surveys since 2001 record a modest but steady rise in first-time visitors from lower-income households, precisely the group that charges used to deter. Free entry has not transformed who walks through the doors, and it would be dishonest to claim otherwise, but it has widened the doorway. That, on balance, seems worth the cost.
Nhật ký lỗi sai (error log) không thuộc yêu cầu chuẩn lớp 12; đây là kỹ năng tự huấn luyện mức HSG. Với mỗi câu sai, em ghi bốn cột: câu hỏi thuộc phần nào của đề, kỹ năng thật sự bị hụt là gì, vì sao phương án em chọn sai, và khóa học nào của lộ trình dạy kỹ năng đó. Cột thứ hai là cột khó nhất: một câu nằm ở phần điền từ nhưng lỗi có thể là collocation (Khóa 3), không phải đọc hiểu. Phân loại theo kỹ năng bị hụt, không phân loại theo vị trí câu hỏi trên đề.
Trích bằng chứng: "first-time visitors from lower-income households, precisely the group that charges used to deter". Xét (b): bài nói du khách nước ngoài hưởng miễn phí ngày nay, không nói gì về việc họ trả vé trước 2001, loại vì ngoài phạm vi. Xét (c): mâu thuẫn trực tiếp với "used to deter", loại. Xét (d): bảo tàng địa phương không xuất hiện ở câu nào, loại vì bịa thêm thông tin. Vậy đáp án đúng là (a).
Trích bằng chứng: "a modest but steady rise", "it would be dishonest to claim otherwise", "on balance, seems worth the cost". Xét (b) openly hostile: kết luận nghiêng về giữ chính sách, loại. Xét (c) entirely neutral: "seems worth the cost" là một phán quyết, người trung lập không phán quyết, loại. Xét (d) unreservedly enthusiastic: chuỗi nhượng bộ chính là "reservation", loại. Vậy đáp án đúng là (a).