Đây là bản xem thử. Bản đầy đủ trên app có thêm bài tập, AI chấm điểm tức thì và biểu đồ theo dõi tiến độ học.
Phần
Phân xử bốn phương án cùng trường nghĩa bằng danh từ trục và giới từ
Mục tiêu
Sau bài học này, em giải được dạng câu hỏi khó nhất của phần lexico-grammar HSG: bốn phương án cùng trường nghĩa, cùng đúng ngữ pháp, chỉ một phương án kết hợp được với danh từ trục, bằng quy trình ba bước danh từ trục, tập collocate, giới từ và văn phong.
Kiến thức nền cần có
Em cần bốn họ collocation của bài trước (exert/exercise/wield, strike, meet, shoulder/bear) và khung ba bước loại nhiễu của khóa Chuẩn HSG. Từ lớp 10, em cũng đã học các cặp dễ lẫn kiểu economic và economical, raise và rise; bài này không dạy lại các cặp đó mà chuyển sang lớp kết hợp: từ đúng nghĩa nhưng đứng sai chỗ.
Thử tự trả lời trong mười giây: mưa to là heavy rain hay strong rain? Gió mạnh là heavy wind hay strong wind? Người Việt học tiếng Anh thường trả lời chậm ở đúng chỗ này, vì tiếng Việt dùng chung một chữ to hoặc mạnh cho cả hai, còn tiếng Anh chia đôi: heavy rain nhưng strong wind. Không có quy tắc nghĩa nào giải thích trọn vẹn sự phân chia đó. Nó là thói quen của cả một cộng đồng nói, được cố định qua hàng trăm năm, và đề HSG kiểm tra em có sống trong thói quen đó không.
Ba loại khóa kết hợp trong đề HSG
Loại thứ nhất, tính từ cố định: heavy rain, heavy traffic, heavy smoker, nhưng strong wind, strong coffee, strong accent. Loại thứ hai, động từ cố định: conduct research, commit an offence, raise awareness. Người bản ngữ không nói make research dù make là làm. Loại thứ ba, giới từ hóa thạch nằm trong cụm: attach importance to, take precedence over, give rise to. Ba loại này giống nhau ở một điểm: nghĩa không quyết định, tập quán quyết định.
Một cụm học thuật đầy đủ có bốn khe; đề HSG có thể khoét bất kỳ khe nào thành chỗ trống.
Sơ đồ trên cho thấy một cụm như attach great importance to có bốn khe, và đề có thể khoét khe nào cũng được. Khoét động từ, em phải nhớ importance đi với attach. Khoét tính từ, em phải biết great và considerable đứng được trước importance còn big thì lạc văn phong. Khoét giới từ, em phải nhớ to. Cùng một cụm, ba câu hỏi khác nhau. Vì vậy khi học một collocation, hãy đọc to trọn cụm ít nhất một lần, để tai em ghi lại cả bốn khe cùng lúc.
Mở rộng dành cho HSG: phân xử bốn từ cùng trường nghĩa
Chương trình lớp 12 chỉ yêu cầu dùng đúng từ vựng theo bảy chủ đề của sách giáo khoa. Việc phân xử giữa bốn từ cùng trường nghĩa bằng tập collocate và giới từ hóa thạch không nằm trong yêu cầu chuẩn đó. Ta giới thiệu vì đây là dạng câu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong phần lexico-grammar của đề HSG tỉnh và quốc gia.
Quy trình ba bước cho một chỗ trống lexis
Quy trình chuyên sâu hóa bước hai của khung loại nhiễu ba bước đã học ở khóa Chuẩn HSG.
Bước một luôn là tìm danh từ trục, vì trong cụm collocation danh từ là thành phần ít bị thay thế nhất. Bước hai, gọi tập collocate: nếu em từng học theo họ như bài trước, tập này bật ra rất nhanh. Bước ba mới xét giới từ và văn phong, vì đề HSG thích cài một phương án đúng tập nhưng sai giới từ, hoặc đúng nghĩa nhưng lạc độ trang trọng, ví dụ một động từ thân mật giữa một đoạn báo cáo. Làm đủ ba bước, em không cần cảm giác.
Ví dụ
Bốn động từ cùng nghĩa làm, chỉ một từ được phép đứng cạnh research
1
Chọn từ đúng: "Over two years, the institute ___ a nationwide survey of dietary habits among secondary-school students." A. made B. conducted C. achieved D. held
2
Cả bốn phương án đều là động từ lớp 9 và đều hợp ngữ pháp với chủ ngữ the institute. Câu không kiểm tra nghĩa mà kiểm tra tập quán kết hợp của danh từ trục survey trong văn phong nghiên cứu.
3
Survey thuộc nhóm danh từ nghiên cứu cùng với research, experiment, study. Cả nhóm nhận chung một cặp động từ học thuật: conduct và carry out.
4
Ngữ cảnh là viện nghiên cứu và khảo sát toàn quốc, tức văn phong báo cáo. Trong văn phong đó, nhóm danh từ nghiên cứu gần như luôn đi với conduct, nên phản xạ đầu tiên phải là thử conduct trước khi xét các từ khác.
5
Xét (A) made: make a survey nghe xuôi với người học vì tiếng Việt nói làm một khảo sát, nhưng người bản ngữ dùng make với decision, effort, mistake, không dùng với survey trong văn phong nghiên cứu, loại. Xét (C) achieved: achieve đi với a goal, success, nghĩa đạt được kết quả, còn survey là quá trình, loại vì lệch bản chất danh từ. Xét (D) held: hold đi với a meeting, an election, a ceremony, các sự kiện có giờ khai mạc, còn survey kéo dài hai năm không phải sự kiện, loại. Còn (B) conducted, đúng cặp conduct a survey. Vậy đáp án đúng là (B) conducted.
6
Nhóm danh từ nghiên cứu research, survey, experiment, study nhận conduct và carry out. Bẫy quen nhất là make, sinh ra từ thói quen dịch chữ làm.
7
Nếu danh từ trục đổi thành experiment ở phòng thí nghiệm trường học, tiếng Anh Anh chấp nhận thêm do an experiment trong văn nói. Khi đó đề buộc phải bỏ do khỏi các phương án hoặc chuyển ngữ cảnh sang báo cáo trang trọng để conduct là đáp án duy nhất. Để ý ngữ cảnh trang trọng hay thân mật trước khi khóa đáp án.
Ví dụ
Giới từ hóa thạch: give rise to
1
Chọn từ đúng: "The sudden change in visa policy has ___ rise to widespread confusion among international students." A. brought B. made C. given D. taken
2
Chỗ trống không đứng trước danh từ trục tự do mà nằm trong một cụm ba mảnh đã hóa thạch: động từ, rise, to. Đề chuẩn hiếm khi kiểm tra cụm hóa thạch dài; đề HSG lại rất chuộng vì chỉ cần lệch một mảnh là cụm sụp.
3
Nhận ra rise to phía sau là đuôi của cụm cố định give rise to, nghĩa là làm nảy sinh. Cụm này chỉ có một động từ hợp lệ.
4
Khi thấy một danh từ trơ trọi không quán từ như rise đứng ngay sau chỗ trống và kéo theo giới từ to, đó là dấu vân tay của một cụm hóa thạch. Câu hỏi lúc này không còn là chọn nghĩa mà là nhớ đúng cụm.
5
Xét (A) brought: bring kết hợp với about thành bring about change, nhưng không có cụm bring rise to, đây là bẫy trộn hai cụm gần nghĩa, loại. Xét (B) made: make đi thẳng với danh từ có quán từ, make a rise không tồn tại, loại. Xét (D) taken: take đi với precedence over, take effect, không có take rise to, loại. Còn (C) given, đúng cụm give rise to. Vậy đáp án đúng là (C) given.
6
Ba cụm hóa thạch hay bị trộn vào nhau: give rise to (làm nảy sinh), bring about (gây ra, không giới từ to), take precedence over (được ưu tiên hơn). Học từng cụm trọn vẹn thì bẫy trộn cụm mất tác dụng.
7
Đề có thể khoét giới từ thay vì động từ: "The policy gave rise ___ confusion" với các phương án to, for, at, in. Cùng một cụm, chỗ khoét khác, và đáp án vẫn do cụm hóa thạch quyết định: to.
Ví dụ
Bẫy văn phong: từ đúng tập nhưng lạc thanh ghi
1
Chọn từ phù hợp nhất: "The ministry ___ great importance to the teaching of foreign languages in rural schools." A. attaches B. sticks C. fixes D. glues
2
Bốn phương án đều mang nghĩa gắn hoặc dính. Học sinh tra từ điển Việt Anh sẽ thấy cả bốn đều là gắn. Câu kiểm tra việc em biết nghĩa gắn nào đã được văn phong học thuật chọn làm chuẩn trong cụm với importance.
3
Danh từ trục importance trong nghĩa coi trọng chỉ nhận attach: attach importance/weight/significance to. Ba từ còn lại chỉ giữ nghĩa dính vật lý.
4
Chủ ngữ the ministry và ngữ cảnh chính sách giáo dục báo hiệu thanh ghi trang trọng. Trong thanh ghi đó, các động từ dính vật lý như stick, glue nghe lạc hẳn tông, nên nghi ngờ phải dồn vào từ duy nhất có nghĩa trừu tượng.
5
Xét (B) sticks: stick nghĩa dán, dính vật lý, stick a stamp on an envelope, không mang nghĩa coi trọng, loại. Xét (C) fixes: fix nghĩa sửa hoặc cố định vị trí, fix a shelf to the wall, không tạo cụm với importance, loại. Xét (D) glues: glue là dán bằng keo, thuần vật lý, loại. Còn (A) attaches, đúng cụm attach importance to với giới từ to đã có sẵn trong câu. Vậy đáp án đúng là (A) attaches.
6
Khi bốn phương án là các từ đồng nghĩa vật lý của nhau, hãy tìm từ duy nhất có thêm nghĩa trừu tượng đã hóa thạch trong cụm học thuật. Đó gần như luôn là đáp án.
7
Cụm anh em của attach importance to là place/put emphasis on: "The curriculum places considerable emphasis on speaking skills." Danh từ trục đổi từ importance sang emphasis thì động từ đổi sang place/put và giới từ đổi sang on. Mỗi danh từ trục kéo theo trọn bộ khe của nó.
Bẫy thường gặp
(1) Tra nghĩa từng phương án rồi chọn từ có nghĩa sát nhất: cách này thua đúng ở loại câu bốn từ cùng nghĩa. (2) Bỏ qua giới từ đứng sau chỗ trống: nhiều câu chỉ giải được nhờ đuôi to, on, over. (3) Quên xét thanh ghi: một động từ thân mật đặt giữa câu báo cáo trang trọng là tín hiệu loại, dù nghĩa không sai. Đề HSG hay dành phương án đó cho học sinh chỉ tra nghĩa.
Luyện tập có hướng dẫn
Luyện tập độc lập
Đến đây em có trọn bộ công cụ cho dạng câu bốn phương án cùng trường nghĩa: danh từ trục, tập collocate, giới từ hóa thạch, thanh ghi. Bài kiểm tra chương sẽ trộn cả hai bài. Sang chương sau, đối tượng đổi dạng: cụm động từ với tiểu từ, nơi nghĩa của cả cụm không còn nằm trong nghĩa của động từ gốc, và bẫy không còn là danh từ trục mà là chính tiểu từ đứng sau động từ.
Thử tự trả lời trong mười giây: mưa to là heavy rain hay strong rain? Gió mạnh là heavy wind hay strong wind? Người Việt học tiếng Anh thường trả lời chậm ở đúng chỗ này, vì tiếng Việt dùng chung một chữ to hoặc mạnh cho cả hai, còn tiếng Anh chia đôi: heavy rain nhưng strong wind. Không có quy tắc nghĩa nào giải thích trọn vẹn sự phân chia đó. Nó là thói quen của cả một cộng đồng nói, được cố định qua hàng trăm năm, và đề HSG kiểm tra em có sống trong thói quen đó không.
Loại thứ nhất, tính từ cố định: heavy rain, heavy traffic, heavy smoker, nhưng strong wind, strong coffee, strong accent. Loại thứ hai, động từ cố định: conduct research, commit an offence, raise awareness. Người bản ngữ không nói make research dù make là làm. Loại thứ ba, giới từ hóa thạch nằm trong cụm: attach importance to, take precedence over, give rise to. Ba loại này giống nhau ở một điểm: nghĩa không quyết định, tập quán quyết định.
Sơ đồ trên cho thấy một cụm như attach great importance to có bốn khe, và đề có thể khoét khe nào cũng được. Khoét động từ, em phải nhớ importance đi với attach. Khoét tính từ, em phải biết great và considerable đứng được trước importance còn big thì lạc văn phong. Khoét giới từ, em phải nhớ to. Cùng một cụm, ba câu hỏi khác nhau. Vì vậy khi học một collocation, hãy đọc to trọn cụm ít nhất một lần, để tai em ghi lại cả bốn khe cùng lúc.
Bước một luôn là tìm danh từ trục, vì trong cụm collocation danh từ là thành phần ít bị thay thế nhất. Bước hai, gọi tập collocate: nếu em từng học theo họ như bài trước, tập này bật ra rất nhanh. Bước ba mới xét giới từ và văn phong, vì đề HSG thích cài một phương án đúng tập nhưng sai giới từ, hoặc đúng nghĩa nhưng lạc độ trang trọng, ví dụ một động từ thân mật giữa một đoạn báo cáo. Làm đủ ba bước, em không cần cảm giác.
Xét (A) made: make a survey nghe xuôi với người học vì tiếng Việt nói làm một khảo sát, nhưng người bản ngữ dùng make với decision, effort, mistake, không dùng với survey trong văn phong nghiên cứu, loại. Xét (C) achieved: achieve đi với a goal, success, nghĩa đạt được kết quả, còn survey là quá trình, loại vì lệch bản chất danh từ. Xét (D) held: hold đi với a meeting, an election, a ceremony, các sự kiện có giờ khai mạc, còn survey kéo dài hai năm không phải sự kiện, loại. Còn (B) conducted, đúng cặp conduct a survey. Vậy đáp án đúng là (B) conducted.
Xét (B) sticks: stick nghĩa dán, dính vật lý, stick a stamp on an envelope, không mang nghĩa coi trọng, loại. Xét (C) fixes: fix nghĩa sửa hoặc cố định vị trí, fix a shelf to the wall, không tạo cụm với importance, loại. Xét (D) glues: glue là dán bằng keo, thuần vật lý, loại. Còn (A) attaches, đúng cụm attach importance to với giới từ to đã có sẵn trong câu. Vậy đáp án đúng là (A) attaches.
(1) Tra nghĩa từng phương án rồi chọn từ có nghĩa sát nhất: cách này thua đúng ở loại câu bốn từ cùng nghĩa. (2) Bỏ qua giới từ đứng sau chỗ trống: nhiều câu chỉ giải được nhờ đuôi to, on, over. (3) Quên xét thanh ghi: một động từ thân mật đặt giữa câu báo cáo trang trọng là tín hiệu loại, dù nghĩa không sai. Đề HSG hay dành phương án đó cho học sinh chỉ tra nghĩa.
Đến đây em có trọn bộ công cụ cho dạng câu bốn phương án cùng trường nghĩa: danh từ trục, tập collocate, giới từ hóa thạch, thanh ghi. Bài kiểm tra chương sẽ trộn cả hai bài. Sang chương sau, đối tượng đổi dạng: cụm động từ với tiểu từ, nơi nghĩa của cả cụm không còn nằm trong nghĩa của động từ gốc, và bẫy không còn là danh từ trục mà là chính tiểu từ đứng sau động từ.