Từ vựng nghề nghiệp mở rộng

Cây ước mơ mới có hai chiếc lá, còn nhiều cành trống quá. Mi lấy ra bốn ngôi sao giấy nhỏ, mỗi ngôi sao một màu. Ríu hỏi bốn ngôi sao đó sẽ ghi tên nghề gì. Mi mỉm cười, mở hộp bút để viết bốn tên nghề mới.
Bốn nghề nghiệp mới trên cây ước mơ
Pilot nghĩa là phi công, người lái máy bay. Singer nghĩa là ca sĩ, người hát trên sân khấu. Scientist nghĩa là nhà khoa học, người nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Police officer nghĩa là cảnh sát, người giữ an toàn cho mọi người. Bốn nghề này đều dùng chữ a trước tên nghề. Riêng police officer vẫn chỉ cần một chữ a, không thêm gì khác.
Ríu chỉ vào ngôi sao đầu tiên, thử đặt câu cho nó. 'I'd like to be a pilot.', Ríu nói, giọng rất tự hào. Mi khen câu đó đúng, rồi chỉ sang ngôi sao thứ hai. 'She'd like to be a scientist.', Mi đọc, chỉ vào hình cô bạn. Ríu hỏi vì sao lại dùng she mà không phải I. Mi giải thích: she dùng khi nói về một bạn gái khác.
Bốn nghề mới đều đi cùng chữ a phía trước. Police officer là hai từ nhưng vẫn tính là một tên nghề. Đọc chậm từng âm để không bỏ sót chữ officer.
Mi và Ríu cùng luyện ghép câu cho hai nghề còn lại. Ríu giúp Mi kiểm tra từng câu cho thật chuẩn.
Vào trang bài tập nhỏ
- 1
Hai ngôi sao còn ghi trống: pilot và singer. Em giúp Mi đặt câu cho từng ngôi sao.
- 2
Ngôi sao một là pilot: I'd like to be a pilot. Ngôi sao hai là singer: I'd like to be a singer.
- 3
Mỗi ngôi sao một câu, cùng một mẫu I'd like to be a.
- 1
Hai ngôi sao cuối là scientist và police officer. Em giúp Mi đặt câu cho từng ngôi sao.
- 2
Ngôi sao ba là scientist: I'd like to be a scientist. Ngôi sao bốn là police officer: I'd like to be a police officer.
- 3
Police officer vẫn chỉ cần một chữ a phía trước.
Bẫy vui: có bạn quên mất chữ officer, chỉ nói 'a police'. Police officer luôn cần đủ hai từ đi cùng nhau. Em đọc trọn cả hai từ để không mắc bẫy này.
Em vừa giúp Mi và Ríu treo thêm bốn chiếc lá ước mơ mới lên cây.
Hẹn lần sau, Mi sẽ kể lý do vì sao mình thích từng nghề đó. Ríu đoán chắc sẽ có nhiều lý do rất thú vị.