Ba loại bẫy nhiễu phổ biến trong đề HSG
Mục tiêu
Sau bài học này, em phân loại được một phương án nhiễu thuộc bẫy hình thức gần giống, bẫy đúng ngữ pháp sai ngữ cảnh, hay bẫy thì lẫn lộn, và giải thích được bằng lý do cụ thể vì sao phương án đó sai.
Em cần nắm từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ, trạng từ), cấu trúc động từ nguyên mẫu có 'to' so với danh động từ V-ing sau một số động từ và giới từ quen thuộc, cùng các thì đã ôn ở bài trước.
So với đề chuẩn
Đề chuẩn thường chỉ có một phương án sai rõ ràng, dễ loại ngay bằng cách đọc lướt. Đề HSG gài các phương án gây nhiễu 'gần đúng' theo ba khuôn mẫu lặp lại từ câu này sang câu khác, nên nhận diện được đúng khuôn mẫu quan trọng hơn nhớ từng câu riêng lẻ.
Ba họ bẫy nhiễu
- 1
Chọn đáp án đúng: 'The weather has been very ___ this week.' A. cold B. coldly C. coldness D. colder
- 2
Cả bốn phương án cùng gốc từ 'cold' nhưng khác từ loại: cold là tính từ, coldly là trạng từ, coldness là danh từ, colder là tính từ so sánh hơn. Đề đánh vào việc học sinh chỉ nhìn mặt chữ quen thuộc mà không xét vị trí ngữ pháp cần điền.
- 3
Chỗ trống đứng sau động từ liên kết 'has been very', vị trí này cần một tính từ để bổ nghĩa cho chủ ngữ 'the weather', không phải trạng từ hay danh từ.
- 4
Loại 'coldly' (trạng từ, chỉ bổ nghĩa cho động từ). Loại 'coldness' (danh từ, không đứng được sau 'very'). 'Colder' là tính từ đúng từ loại nhưng mang nghĩa so sánh hơn, trong khi câu không có đối tượng nào để so sánh, nên cũng sai nghĩa.
- 5
Vậy đáp án đúng là 'cold', tính từ gốc, đúng cả từ loại lẫn nghĩa cho một nhận xét chung về thời tiết trong tuần.
- 1
Chọn đáp án đúng: 'He is looking forward to ___ (see) you.' A. see B. seeing C. saw D. seen
- 2
'See' là một động từ nguyên mẫu có thật, hoàn toàn đúng ngữ pháp ở một câu khác như 'He wants to see you.' Nhưng trong cấu trúc 'look forward to', chữ 'to' không phải dấu hiệu động từ nguyên mẫu, mà là một giới từ cố định đi liền với cụm động từ này.
- 3
Sau một giới từ, động từ theo sau luôn ở dạng danh động từ (V-ing), không phải nguyên mẫu. Vì vậy 'to' trong 'look forward to' đòi hỏi 'seeing', không phải 'see'.
- 4
Vậy đáp án đúng là 'seeing'. 'See' không sai ngữ pháp ở bản thân nó, nó chỉ sai vì không hợp với cấu trúc cố định của câu đang xét, đúng bản chất của bẫy đúng ngữ pháp sai ngữ cảnh.
- 5
Một số cụm quen thuộc cùng khuôn mẫu: 'be used to doing', 'be interested in doing', 'admit doing'. Gặp 'to' trong các cụm này, luôn kiểm tra xem nó là giới từ hay dấu hiệu động từ nguyên mẫu trước khi chọn dạng động từ.
- 1
Chọn cặp đáp án đúng: 'When I ___ home yesterday, my brother ___ all the cake.' A. get / already eat B. got / already ate C. will get / already eaten D. got / had already eaten
- 2
Cả bốn phương án đều nhìn có vẻ hợp lý nếu chỉ đọc lướt, vì đều chứa những thì quen thuộc. Điểm mấu chốt là hai hành động trong câu không xảy ra cùng lúc: 'về nhà' và 'anh trai đã ăn hết bánh' là hai thời điểm khác nhau trong quá khứ.
- 3
'Ăn hết bánh' xảy ra TRƯỚC 'về nhà', không phải cùng lúc. Mệnh đề 'when I got home' chia quá khứ đơn vì đó là mốc chính của câu chuyện; hành động xảy ra trước mốc đó cần quá khứ hoàn thành.
- 4
Loại A vì không có tín hiệu quá khứ ở cả hai vế. Loại C vì 'will get' không hợp một câu chuyện đã xảy ra ở quá khứ. Loại B vì hai vế cùng quá khứ đơn không thể hiện được việc 'ăn hết bánh' xảy ra trước 'về nhà'.
- 5
Vậy đáp án đúng là D: 'When I got home yesterday, my brother had already eaten all the cake.'
(1) Chọn phương án quen mắt nhất mà không xét từ loại cần điền. (2) Cho rằng một từ đúng ngữ pháp ở đâu đó cũng đúng trong mọi câu, quên kiểm tra cấu trúc cố định đang xét. (3) Chỉ nhìn từng mệnh đề riêng lẻ mà không xác định thứ tự trước sau của hai hành động trong câu ghép.
Luyện tập có hướng dẫn
Luyện tập độc lập
Ba họ bẫy quay lại xuyên suốt khóa học: hình thức gần giống (sai từ loại), đúng ngữ pháp sai ngữ cảnh (sai cấu trúc cố định), và thì lẫn lộn (sai thứ tự hoặc tầng thời gian). Gọi đúng tên bẫy trước khi tìm lý do cụ thể sẽ nhanh hơn nhiều so với đọc lại cả bốn phương án từ đầu.
Ba họ bẫy vừa học sẽ xuất hiện lại trong mọi dạng câu hỏi của khóa này. Chương tiếp theo áp dụng chúng vào dạng bài cloze passage, nơi bẫy nhiễu được gài trong cả một đoạn văn chứ không chỉ một câu đơn lẻ.