Đây là bản xem thử. Phiên bản đầy đủ trong ứng dụng có bài tập, AI chấm ngay và theo dõi tiến độ học.
Bài học
Luyện dạng đúng/sai và trả lời ngắn
Mục tiêu bài học
Sau bài này, em làm quen với cách trả lời hai dạng câu hỏi còn lại của đề thi tốt nghiệp THPT 2025: đúng/sai từng ý (Phần II) và trả lời ngắn (Phần III), áp dụng ngay trên nội dung nhiệt dung riêng và cân bằng nhiệt vừa học.
Kiến thức nền cần nhớ
Bài trước đã ôn tập nội dung; bài này ôn đúng ĐỊNH DẠNG câu hỏi, không thêm kiến thức vật lí mới. Mọi con số, công thức và phép tính xuất hiện dưới đây đều là những gì đã học ở bốn bài trước, chỉ khoác một cách hỏi khác — điều thay đổi là cách đề bài yêu cầu em trình bày câu trả lời, không phải bản chất vật lí của bài toán.
Khởi động
Em đã từng làm một câu hỏi trắc nghiệm bốn lựa chọn: chọn một đáp án và có điểm ngay hoặc không có điểm. Câu hỏi đúng/sai từng ý và câu hỏi trả lời ngắn khác gì so với cách làm quen thuộc đó?
Kiến thức trọng tâm
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025 theo Chương trình GDPT 2018 tổ chức đề thi các môn khoa học tự nhiên, trong đó có Vật lí, theo ba phần: Phần I trắc nghiệm nhiều lựa chọn (chọn một trong bốn phương án, giống các câu em đã luyện xuyên suốt khoá học này), Phần II đúng/sai từng ý (mỗi câu gồm nhiều ý nhỏ, mỗi ý phải xác định đúng hoặc sai, điểm tính theo số ý đúng chứ không phải tất cả hoặc không có gì), và Phần III trả lời ngắn (không có sẵn đáp án để chọn, em tự tính ra một con số và điền vào, chú ý làm tròn đúng theo yêu cầu đề bài).
Định dạng đúng/sai từng ý đòi hỏi em đọc kĩ TỪNG ý nhỏ độc lập với nhau, không suy luận rằng nếu ý (a) đúng thì ý (b) chắc cũng đúng. Định dạng trả lời ngắn đòi hỏi em tính toán cẩn thận đến bước cuối và làm tròn đúng số chữ số đề yêu cầu, vì không có phương án nào để đoán mò hay loại trừ.
Trong Phần II, các phát biểu chứa từ tuyệt đối như "luôn luôn", "mọi", "không bao giờ", "chắc chắn" cần được kiểm tra đặc biệt cẩn thận: chỉ cần một trường hợp ngoại lệ là đủ khiến phát biểu đó SAI, dù phần lớn nội dung nghe có vẻ đúng. Chẳng hạn phát biểu (c) trong ví dụ dưới đây nói bỏ qua nhiệt lượng kế "luôn chính xác tuyệt đối" — chỉ cần một trường hợp nhiệt lượng kế đủ nặng để gây sai số đáng kể là đủ bác bỏ toàn bộ phát biểu, bất kể sai số đó nhỏ đến đâu trong đa số tình huống thông thường.
Quy tắc làm tròn phổ biến nhất là làm tròn nửa lên: nếu chữ số ngay sau vị trí cần làm tròn từ 5 trở lên thì tăng chữ số trước đó thêm 1, còn từ 4 trở xuống thì giữ nguyên. Ví dụ $28{,}197$ làm tròn đến hàng phần mười cho $28{,}2$ vì chữ số hàng phần trăm là 9, còn $25{,}94$ làm tròn đến hàng đơn vị cho $26$ vì chữ số hàng phần mười là 9. Luôn làm tròn ở BƯỚC CUỐI CÙNG của phép tính, không làm tròn các kết quả trung gian rồi mới cộng lại, vì làm tròn sớm có thể tích luỹ sai số và cho ra đáp số cuối cùng lệch khỏi đáp án chính thức.
Về mặt trình bày, câu trả lời ngắn trên phiếu trả lời thường yêu cầu điền số theo đúng định dạng quy định của đề, ví dụ dùng dấu phẩy làm dấu thập phân theo chuẩn Việt Nam, không dùng dấu chấm, và không kèm đơn vị nếu đơn vị đã được nêu sẵn trong câu hỏi. Một đáp số tính đúng nhưng điền sai định dạng, chẳng hạn điền "28.2" thay vì "28,2", có thể không được hệ thống chấm tự động nhận diện, dù bản chất phép tính hoàn toàn chính xác.
Vì Phần III không có phương án để đối chiếu, kĩ năng ước lượng bậc độ lớn giới thiệu ở bài trước càng quan trọng: trước khi tính chi tiết, hình dung sơ bộ đáp số nên rơi vào khoảng nào là hợp lí. Với một bài cân bằng nhiệt hai vật kim loại-nước thông thường, nhiệt độ cân bằng luôn nằm giữa hai nhiệt độ ban đầu; nếu con số cuối cùng nằm ngoài khoảng đó, chắc chắn có sai sót cần rà soát lại trước khi điền vào phiếu trả lời.
Ví dụ
Luyện dạng đúng/sai từng ý
1
Cho các phát biểu sau về nhiệt lượng và chuyển thể: (a) Trong suốt quá trình nóng chảy của một chất tinh khiết, nhiệt độ luôn tăng dần. (b) Nhiệt hoá hơi riêng của nước lớn hơn nhiệt nóng chảy riêng của nước đá. (c) Nếu bỏ qua nhiệt dung của nhiệt lượng kế, kết quả tính nhiệt độ cân bằng luôn chính xác tuyệt đối. (d) Khi đá không tan hết trong nước, nhiệt độ cân bằng của hệ là 0°C. Hỏi mỗi phát biểu đúng hay sai?
2
(a) SAI, vì trong quá trình nóng chảy nhiệt độ giữ NGUYÊN, không tăng. (b) ĐÚNG, vì $L=2{,}3\times10^6$ J/kg lớn hơn nhiều so với $\lambda=3{,}4\times10^5$ J/kg. (c) SAI, vì bỏ sót nhiệt dung của nhiệt lượng kế luôn gây ra sai số, dù đôi khi nhỏ. (d) ĐÚNG, đúng như đã học ở bài trước.
3
Kết quả: (a) sai, (b) đúng, (c) sai, (d) đúng. Dạng bài này chấm điểm theo từng ý, nên xét đúng một ý vẫn có điểm, không cần đúng cả bốn ý mới có điểm.
Ví dụ
Luyện dạng trả lời ngắn — chú ý làm tròn
1
Thả một miếng đồng khối lượng 0,3kg ở 90°C vào 0,4kg nước ở 24°C (bỏ qua bình chứa). Cho $c_{đồng}=380$, $c_{nước}=4200$ (J/(kg.K)). Tìm nhiệt độ cân bằng, làm tròn đến hàng phần mười độ C, điền kết quả dạng số thập phân.
2
$m_1c_1=0{,}3\times380=114$; $m_2c_2=0{,}4\times4200=1680$. Phương trình: $114(90-t)=1680(t-24)$, khai triển: $10260-114t=1680t-40320$, suy ra $50580=1794t$, do đó $t=50580/1794\approx28{,}197$.
3
Đề yêu cầu làm tròn đến hàng phần mười, tức một chữ số thập phân: $28{,}197\approx28{,}2$°C, không phải $28{,}19$ hay $28$.
4
Đáp số điền vào ô trả lời ngắn là $28{,}2$.
5
Dùng công thức rút gọn đã học ở Chương 3: $t=(114\times90+1680\times24)/(114+1680)=(10260+40320)/1794=50580/1794\approx28{,}197$°C, khớp đúng với kết quả tính theo cách lập phương trình toả/thu ở trên.
Sai lầm thường gặp
Ở dạng trả lời ngắn, một lỗi rất đáng tiếc là tính đúng toàn bộ phép toán nhưng làm tròn sai số chữ số thập phân so với yêu cầu đề, khiến toàn bộ câu bị mất điểm dù cách làm hoàn toàn chính xác. Ở dạng đúng/sai, lỗi phổ biến là suy luận dây chuyền: cho rằng nếu một ý đúng thì ý liền kề cũng đúng, dù hai ý độc lập với nhau.
Luyện tập có hướng dẫn
Luyện tập độc lập
Kiểm tra nhanh
Ghi nhớ
Ba phần của đề thi tốt nghiệp THPT 2025: trắc nghiệm nhiều lựa chọn (chọn một trong bốn), đúng/sai từng ý (chấm theo số ý đúng), trả lời ngắn (tự tính, làm tròn đúng yêu cầu). Kiến thức nền vẫn là những công thức đã học suốt khoá, chỉ khác cách hỏi.
Khoá học về nhiệt dung riêng và cân bằng nhiệt khép lại tại đây. Những công thức và kĩ năng kiểm tra điều kiện chuyển thể vừa luyện sẽ tiếp tục xuất hiện khi khoá tiếp theo bàn về chất khí và các định luật chất khí — một dạng vật chất khác nhưng nguyên tắc trao đổi năng lượng vẫn nhất quán. Thói quen đọc kĩ đề, kiểm tra điều kiện trước khi kết luận, và làm tròn đúng yêu cầu mà em vừa luyện ở đây sẽ theo em suốt các môn khoa học tự nhiên khác, không chỉ riêng Vật lí.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025 theo Chương trình GDPT 2018 tổ chức đề thi các môn khoa học tự nhiên, trong đó có Vật lí, theo ba phần: Phần I trắc nghiệm nhiều lựa chọn (chọn một trong bốn phương án, giống các câu em đã luyện xuyên suốt khoá học này), Phần II đúng/sai từng ý (mỗi câu gồm nhiều ý nhỏ, mỗi ý phải xác định đúng hoặc sai, điểm tính theo số ý đúng chứ không phải tất cả hoặc không có gì), và Phần III trả lời ngắn (không có sẵn đáp án để chọn, em tự tính ra một con số và điền vào, chú ý làm tròn đúng theo yêu cầu đề bài).
Định dạng đúng/sai từng ý đòi hỏi em đọc kĩ TỪNG ý nhỏ độc lập với nhau, không suy luận rằng nếu ý (a) đúng thì ý (b) chắc cũng đúng. Định dạng trả lời ngắn đòi hỏi em tính toán cẩn thận đến bước cuối và làm tròn đúng số chữ số đề yêu cầu, vì không có phương án nào để đoán mò hay loại trừ.
Trong Phần II, các phát biểu chứa từ tuyệt đối như "luôn luôn", "mọi", "không bao giờ", "chắc chắn" cần được kiểm tra đặc biệt cẩn thận: chỉ cần một trường hợp ngoại lệ là đủ khiến phát biểu đó SAI, dù phần lớn nội dung nghe có vẻ đúng. Chẳng hạn phát biểu (c) trong ví dụ dưới đây nói bỏ qua nhiệt lượng kế "luôn chính xác tuyệt đối" — chỉ cần một trường hợp nhiệt lượng kế đủ nặng để gây sai số đáng kể là đủ bác bỏ toàn bộ phát biểu, bất kể sai số đó nhỏ đến đâu trong đa số tình huống thông thường.
Quy tắc làm tròn phổ biến nhất là làm tròn nửa lên: nếu chữ số ngay sau vị trí cần làm tròn từ 5 trở lên thì tăng chữ số trước đó thêm 1, còn từ 4 trở xuống thì giữ nguyên. Ví dụ 28,197 làm tròn đến hàng phần mười cho 28,2 vì chữ số hàng phần trăm là 9, còn 25,94 làm tròn đến hàng đơn vị cho 26 vì chữ số hàng phần mười là 9. Luôn làm tròn ở BƯỚC CUỐI CÙNG của phép tính, không làm tròn các kết quả trung gian rồi mới cộng lại, vì làm tròn sớm có thể tích luỹ sai số và cho ra đáp số cuối cùng lệch khỏi đáp án chính thức.
Về mặt trình bày, câu trả lời ngắn trên phiếu trả lời thường yêu cầu điền số theo đúng định dạng quy định của đề, ví dụ dùng dấu phẩy làm dấu thập phân theo chuẩn Việt Nam, không dùng dấu chấm, và không kèm đơn vị nếu đơn vị đã được nêu sẵn trong câu hỏi. Một đáp số tính đúng nhưng điền sai định dạng, chẳng hạn điền "28.2" thay vì "28,2", có thể không được hệ thống chấm tự động nhận diện, dù bản chất phép tính hoàn toàn chính xác.
Vì Phần III không có phương án để đối chiếu, kĩ năng ước lượng bậc độ lớn giới thiệu ở bài trước càng quan trọng: trước khi tính chi tiết, hình dung sơ bộ đáp số nên rơi vào khoảng nào là hợp lí. Với một bài cân bằng nhiệt hai vật kim loại-nước thông thường, nhiệt độ cân bằng luôn nằm giữa hai nhiệt độ ban đầu; nếu con số cuối cùng nằm ngoài khoảng đó, chắc chắn có sai sót cần rà soát lại trước khi điền vào phiếu trả lời.
Cho các phát biểu sau về nhiệt lượng và chuyển thể: (a) Trong suốt quá trình nóng chảy của một chất tinh khiết, nhiệt độ luôn tăng dần. (b) Nhiệt hoá hơi riêng của nước lớn hơn nhiệt nóng chảy riêng của nước đá. (c) Nếu bỏ qua nhiệt dung của nhiệt lượng kế, kết quả tính nhiệt độ cân bằng luôn chính xác tuyệt đối. (d) Khi đá không tan hết trong nước, nhiệt độ cân bằng của hệ là 0°C. Hỏi mỗi phát biểu đúng hay sai?
(a) SAI, vì trong quá trình nóng chảy nhiệt độ giữ NGUYÊN, không tăng. (b) ĐÚNG, vì L=2,3×106 J/kg lớn hơn nhiều so với λ=3,4×105 J/kg. (c) SAI, vì bỏ sót nhiệt dung của nhiệt lượng kế luôn gây ra sai số, dù đôi khi nhỏ. (d) ĐÚNG, đúng như đã học ở bài trước.
Thả một miếng đồng khối lượng 0,3kg ở 90°C vào 0,4kg nước ở 24°C (bỏ qua bình chứa). Cho cđo^ˋng=380, cnước=4200 (J/(kg.K)). Tìm nhiệt độ cân bằng, làm tròn đến hàng phần mười độ C, điền kết quả dạng số thập phân.
m1c1=0,3×380=114; m2c2=0,4×4200=1680. Phương trình: 114(90−t)=1680(t−24), khai triển: 10260−114t=1680t−40320, suy ra 50580=1794t, do đó t=50580/1794≈28,197.
Đề yêu cầu làm tròn đến hàng phần mười, tức một chữ số thập phân: 28,197≈28,2°C, không phải 28,19 hay 28.
Đáp số điền vào ô trả lời ngắn là 28,2.
Dùng công thức rút gọn đã học ở Chương 3: t=(114×90+1680×24)/(114+1680)=(10260+40320)/1794=50580/1794≈28,197°C, khớp đúng với kết quả tính theo cách lập phương trình toả/thu ở trên.
Khoá học về nhiệt dung riêng và cân bằng nhiệt khép lại tại đây. Những công thức và kĩ năng kiểm tra điều kiện chuyển thể vừa luyện sẽ tiếp tục xuất hiện khi khoá tiếp theo bàn về chất khí và các định luật chất khí — một dạng vật chất khác nhưng nguyên tắc trao đổi năng lượng vẫn nhất quán. Thói quen đọc kĩ đề, kiểm tra điều kiện trước khi kết luận, và làm tròn đúng yêu cầu mà em vừa luyện ở đây sẽ theo em suốt các môn khoa học tự nhiên khác, không chỉ riêng Vật lí.