Đây là bản xem thử. Phiên bản đầy đủ trong ứng dụng có bài tập, AI chấm ngay và theo dõi tiến độ học.
Bài học
Cụm phân từ chủ động và bị động
Mục tiêu
Sau bài học này, em rút gọn đúng một mệnh đề quan hệ xác định thành cụm phân từ: V-ing khi mệnh đề gốc ở thể chủ động, V-ed/V3 khi mệnh đề gốc ở thể bị động, và em giải thích được vì sao chỉ rút gọn được khi đại từ quan hệ đóng vai trò chủ ngữ của mệnh đề đó.
Kiến thức nền cần có (ôn lại lớp 9)
Lớp 9 em đã học mệnh đề quan hệ xác định với who/which/that đứng làm chủ ngữ hoặc tân ngữ. Bài này chỉ ôn lại phần chủ ngữ, vì chỉ trường hợp đó mới rút gọn được. Nếu who/which/that đóng vai trò tân ngữ, mệnh đề không rút gọn theo cách này.
Câu hỏi khởi động
Đọc hai câu sau và để ý xem câu nào gọn hơn mà nghĩa không đổi. Câu 1: The girl who is standing next to Mai is her cousin. Câu 2: The girl standing next to Mai is her cousin. Cả hai đều đúng ngữ pháp, nhưng đề thi tốt nghiệp THPT gần như luôn chọn cách viết gọn. Vì sao lược bỏ được who is mà câu vẫn giữ nguyên nghĩa? Đó là điều em cần nắm chắc trong bài này.
Rút gọn về cụm hiện tại phân từ (chủ động)
Khi đại từ quan hệ làm chủ ngữ và động từ trong mệnh đề ở thể chủ động, em bỏ who/which/that cùng động từ to be (nếu có) và chuyển động từ chính sang dạng V-ing. Với thì tiếp diễn, việc này gần như chỉ là xóa who/which is/are/was/were: The man who is standing there → The man standing there. Với thì đơn không có to be, em thêm -ing trực tiếp vào động từ: Students who take part in the volunteer programme → Students taking part in the volunteer programme. Cụm phân từ này diễn tả một hành động đang diễn ra hoặc một đặc điểm gắn với danh từ đứng trước, không mang nghĩa thời gian riêng của nó mà ăn theo thì của động từ chính trong câu.
Cấu trúc rút gọn chủ động: [Danh từ] + [cụm V-ing] + [động từ chính]
Rút gọn về cụm quá khứ phân từ (bị động)
Khi mệnh đề quan hệ ở thể bị động, em bỏ who/which cùng to be, giữ lại động từ ở dạng V-ed/V3: The book which was written by Nguyễn Nhật Ánh → The book written by Nguyễn Nhật Ánh. Điểm mấu chốt học sinh hay lẫn: chọn V-ing hay V-ed không phụ thuộc vào việc mệnh đề đang ở thì gì, mà phụ thuộc vào chủ động hay bị động. The letter which was sent yesterday là bị động (lá thư được gửi) nên rút gọn thành sent, chứ không phải sending, dù động từ gốc ở quá khứ đơn chứ không phải bị động ở dạng đầy đủ nhìn qua có vẻ đơn giản.
Cấu trúc rút gọn bị động: [Danh từ] + [cụm V-ed/V3] + [động từ chính]
Ví dụ
Rút gọn một mệnh đề quan hệ ở thì tiếp diễn
1
The girl who is reading a novel in the library is Lan's sister. Đề yêu cầu viết lại câu trên sao cho nghĩa không đổi nhưng gọn hơn. Bẫy thường gặp là học sinh giữ nguyên who is rồi chỉ đổi is thành are cho khớp với girl số ít, hoặc bỏ nhầm cả động từ chính is her sister ở phía sau.
2
Đại từ quan hệ who làm chủ ngữ của mệnh đề reading, và động từ is reading ở thể chủ động (chính cô gái đang đọc sách, không phải bị ai đọc). Vì vậy rút gọn về cụm hiện tại phân từ: bỏ who is, giữ reading nguyên dạng.
3
Với bốn phương án The girl read a novel in the library is Lan's sister / The girl reading a novel in the library is Lan's sister / The girl to read a novel in the library is Lan's sister / The girl read a novel in the library and is Lan's sister: loại phương án một vì read không chia được, câu thiếu động từ chính cho chủ ngữ the girl; loại phương án ba vì to-infinitive chỉ dùng sau số thứ tự, so sánh nhất hoặc the only/the last, không áp dụng ở đây; loại phương án bốn vì nối bằng and làm câu thành hai vế ngang hàng, đổi hẳn cấu trúc câu gốc.
4
The girl reading a novel in the library is Lan's sister.
5
Mệnh đề ở thì tiếp diễn với đại từ quan hệ làm chủ ngữ luôn rút gọn bằng cách bỏ who/which + am/is/are/was/were, giữ nguyên V-ing. Biến thể: nếu đổi is reading thành was reading, cách rút gọn vẫn y hệt, chỉ đổi reading vẫn giữ nguyên vì cụm phân từ không tự mang thì riêng.
Ví dụ
Rút gọn một mệnh đề quan hệ bị động
1
The letter which was sent to the headmaster contained a complaint about the canteen. Bẫy ở đây là học sinh thấy was sent rồi rút gọn nhầm thành sending, nhầm lẫn giữa hình thức bị động was sent với thì tiếp diễn was sending.
2
Chủ ngữ the letter không tự gửi, nó được ai đó gửi đi, nên mệnh đề ở thể bị động: which was sent. Đại từ quan hệ which làm chủ ngữ của mệnh đề bị động này, đủ điều kiện rút gọn bằng cách bỏ which was, giữ động từ ở dạng V3: sent.
3
Với bốn phương án The letter sent to the headmaster contained a complaint / The letter sending to the headmaster contained a complaint / The letter to send to the headmaster contained a complaint / The letter having sent to the headmaster contained a complaint: loại phương án hai vì sending mang nghĩa chủ động, lá thư không thể tự gửi; loại phương án ba vì to-infinitive không áp dụng khi danh từ đứng trước không có số thứ tự hay so sánh nhất; loại phương án bốn vì having sent diễn tả một hành động chủ động đã hoàn tất trước hành động khác, không phải cấu trúc bị động đơn giản đang cần ở đây.
4
The letter sent to the headmaster contained a complaint about the canteen.
5
Mệnh đề bị động luôn rút gọn về V-ed/V3, không bao giờ về V-ing, vì V-ing luôn mang nghĩa chủ động. Biến thể: The book which is admired by many readers → The book admired by many readers, rút gọn y hệt dù thì của mệnh đề gốc là hiện tại đơn bị động chứ không phải quá khứ.
Ví dụ
Rút gọn khi mệnh đề gốc không có to be
1
Students who take part in the volunteer programme this summer will receive a certificate. Đây là câu khó hơn vì mệnh đề quan hệ take part không có to be để bỏ đi, khiến nhiều học sinh nghĩ câu này không rút gọn được.
2
Đại từ quan hệ who vẫn làm chủ ngữ, động từ take part ở thì hiện tại đơn thể chủ động. Với trường hợp này quy tắc vẫn áp dụng: bỏ who, thêm -ing trực tiếp vào động từ chính, không cần có to be sẵn trong câu.
3
Với bốn phương án Students taken part in the volunteer programme this summer will receive a certificate / Students taking part in the volunteer programme this summer will receive a certificate / Students to take part in the volunteer programme this summer will receive a certificate / Students who taking part in the volunteer programme this summer will receive a certificate: loại phương án một vì taken là dạng bị động, trong khi học sinh chủ động tham gia; loại phương án ba vì the students không đứng sau số thứ tự hay so sánh nhất nên không dùng to-infinitive; loại phương án bốn vì who và V-ing không thể đứng cùng nhau, phải chọn một trong hai.
4
Students taking part in the volunteer programme this summer will receive a certificate.
5
Không có to be trong mệnh đề gốc không có nghĩa là không rút gọn được, chỉ cần đại từ quan hệ làm chủ ngữ và mệnh đề ở thể chủ động là thêm -ing trực tiếp vào động từ chính. Biến thể: Anyone who wants extra practice can visit the library → Anyone wanting extra practice can visit the library.
Bẫy thường gặp
Bẫy hay gặp nhất: học sinh cứ thấy mệnh đề quan hệ là rút gọn, quên kiểm tra xem who/which có làm chủ ngữ hay không. The book which I bought yesterday (which làm tân ngữ, chủ ngữ thật là I) không rút gọn theo cách này — câu này chỉ có thể bỏ which và giữ nguyên phần còn lại: The book I bought yesterday. Trước khi chọn V-ing hay V-ed, luôn hỏi hai câu: đại từ quan hệ có làm chủ ngữ không, và mệnh đề chủ động hay bị động.
Tóm lại, muốn rút gọn một mệnh đề quan hệ xác định, em luôn kiểm tra hai điều: đại từ quan hệ có làm chủ ngữ hay không, và mệnh đề chủ động hay bị động. Chủ động thì chuyển sang V-ing, bị động thì chuyển sang V-ed/V3, và động từ chính của câu vẫn giữ nguyên thì như câu gốc.
Bài tiếp theo học một cách rút gọn khác, dùng khi danh từ đứng trước có số thứ tự hoặc so sánh nhất, cùng cách rút gọn mệnh đề không xác định thành cụm danh từ đồng vị.
Khi đại từ quan hệ làm chủ ngữ và động từ trong mệnh đề ở thể chủ động, em bỏ who/which/that cùng động từ to be (nếu có) và chuyển động từ chính sang dạng V-ing. Với thì tiếp diễn, việc này gần như chỉ là xóa who/which is/are/was/were: The man who is standing there → The man standing there. Với thì đơn không có to be, em thêm -ing trực tiếp vào động từ: Students who take part in the volunteer programme → Students taking part in the volunteer programme. Cụm phân từ này diễn tả một hành động đang diễn ra hoặc một đặc điểm gắn với danh từ đứng trước, không mang nghĩa thời gian riêng của nó mà ăn theo thì của động từ chính trong câu.
Khi mệnh đề quan hệ ở thể bị động, em bỏ who/which cùng to be, giữ lại động từ ở dạng V-ed/V3: The book which was written by Nguyễn Nhật Ánh → The book written by Nguyễn Nhật Ánh. Điểm mấu chốt học sinh hay lẫn: chọn V-ing hay V-ed không phụ thuộc vào việc mệnh đề đang ở thì gì, mà phụ thuộc vào chủ động hay bị động. The letter which was sent yesterday là bị động (lá thư được gửi) nên rút gọn thành sent, chứ không phải sending, dù động từ gốc ở quá khứ đơn chứ không phải bị động ở dạng đầy đủ nhìn qua có vẻ đơn giản.
Với bốn phương án The girl read a novel in the library is Lan's sister / The girl reading a novel in the library is Lan's sister / The girl to read a novel in the library is Lan's sister / The girl read a novel in the library and is Lan's sister: loại phương án một vì read không chia được, câu thiếu động từ chính cho chủ ngữ the girl; loại phương án ba vì to-infinitive chỉ dùng sau số thứ tự, so sánh nhất hoặc the only/the last, không áp dụng ở đây; loại phương án bốn vì nối bằng and làm câu thành hai vế ngang hàng, đổi hẳn cấu trúc câu gốc.
Với bốn phương án The letter sent to the headmaster contained a complaint / The letter sending to the headmaster contained a complaint / The letter to send to the headmaster contained a complaint / The letter having sent to the headmaster contained a complaint: loại phương án hai vì sending mang nghĩa chủ động, lá thư không thể tự gửi; loại phương án ba vì to-infinitive không áp dụng khi danh từ đứng trước không có số thứ tự hay so sánh nhất; loại phương án bốn vì having sent diễn tả một hành động chủ động đã hoàn tất trước hành động khác, không phải cấu trúc bị động đơn giản đang cần ở đây.
Với bốn phương án Students taken part in the volunteer programme this summer will receive a certificate / Students taking part in the volunteer programme this summer will receive a certificate / Students to take part in the volunteer programme this summer will receive a certificate / Students who taking part in the volunteer programme this summer will receive a certificate: loại phương án một vì taken là dạng bị động, trong khi học sinh chủ động tham gia; loại phương án ba vì the students không đứng sau số thứ tự hay so sánh nhất nên không dùng to-infinitive; loại phương án bốn vì who và V-ing không thể đứng cùng nhau, phải chọn một trong hai.
Bẫy hay gặp nhất: học sinh cứ thấy mệnh đề quan hệ là rút gọn, quên kiểm tra xem who/which có làm chủ ngữ hay không. The book which I bought yesterday (which làm tân ngữ, chủ ngữ thật là I) không rút gọn theo cách này — câu này chỉ có thể bỏ which và giữ nguyên phần còn lại: The book I bought yesterday. Trước khi chọn V-ing hay V-ed, luôn hỏi hai câu: đại từ quan hệ có làm chủ ngữ không, và mệnh đề chủ động hay bị động.