Đây là bản xem thử. Phiên bản đầy đủ trong ứng dụng có bài tập, AI chấm ngay và theo dõi tiến độ học.

Bài học

Ôn tập tổng hợp: Từ thuật ngữ đến quy luật Mendel

Mục tiêu bài học

Sau bài này, em phối hợp được toàn bộ kỹ năng của khóa học — thuật ngữ, quy luật phân li, phép lai phân tích, quy luật phân li độc lập, quy tắc xác suất — để giải một bài toán di truyền tổng hợp, nhiều phần, đúng dạng đề kiểm tra cuối chương.

Kiến thức nền cần nhớ

Sáu bài trước đã xây dựng lần lượt: thuật ngữ cơ bản; phương pháp nghiên cứu của Mendel; quy luật phân li và phép lai một cặp tính trạng; phép lai phân tích và biện luận ngược; quy luật phân li độc lập; quy tắc xác suất (same-grade bridge, toàn bộ khóa học). Bài ôn tập không đưa thêm quy luật mới nào — chỉ luyện cách phối hợp chúng trong một bài toán nhiều phần.
Khởi động

Một đề kiểm tra cuối chương thường không hỏi riêng từng quy luật, mà lồng nhiều câu hỏi vào MỘT tình huống lai duy nhất — phần a hỏi kiểu gene, phần b hỏi tỉ lệ đời con, phần c hỏi xác suất một kiểu hình cụ thể. Bài học này luyện đúng cách làm bài dạng đó.

Kiến thức trọng tâm

Một bài toán lai tổng hợp luôn giải theo cùng một trình tự, bất kể độ phức tạp: xác định giả thiết và quy ước gene → xác định kiểu gene của P (dựa vào "thuần chủng" hay dữ kiện đời con) → xác định kiểu gene, kiểu hình F1 → dùng khung Punnett (một hoặc hai cặp tính trạng) hoặc quy tắc xác suất (từ ba cặp trở lên, hoặc khi chỉ cần MỘT kiểu hình cụ thể) để tính tỉ lệ F2 → đối chiếu với số liệu quan sát nếu đề cho → kết luận bằng câu "Vậy …" đầy đủ. Cái khó không nằm ở việc nhớ công thức, mà ở việc chọn đúng công cụ cho từng phần của đề: phần hỏi kiểu gene bố mẹ từ tỉ lệ đời con cần biện luận ngược; phần hỏi MỘT kiểu hình cụ thể ở phép lai nhiều cặp tính trạng nên dùng quy tắc xác suất thay vì vẽ cả khung Punnett.
Nhìn lại toàn khóa theo đúng trình tự đã học: Chương 1 xây dựng thuật ngữ, phương pháp nghiên cứu, quy luật phân li (P → F1 → F2, tỉ lệ 3:1), và phép lai phân tích (biện luận kiểu gene từ tỉ lệ 100% hoặc 1:1). Chương 2 mở rộng sang hai cặp tính trạng: quy luật phân li độc lập (tỉ lệ 9:3:3:1, kiểu hình tái tổ hợp) và quy tắc xác suất (nhân các tỉ lệ riêng lẻ, thay cho khung Punnett cồng kềnh). Mọi bài toán trong khóa học đều là biến thể của bốn kỹ năng này, phối hợp theo những cách khác nhau.
Sơ đồ năm bước giải một bài toán di truyền tổng hợp, áp dụng cho mọi dạng bài của khóa học này.1Xác định giảthiết và quy ướcgene (trội,allele, NST)2Xác định kiểugene P (thuầnchủng hay từ tỉlệ đời con)3Chọn công cụ:khung Punnetthoặc quy tắc xácsuấtMột, hai cặp tínhtrạng: khung Punnett.Từ ba cặp hoặc mộtkiểu hình cụ thể: quytắc xác suất.4Tính tỉ lệ kiểugene, kiểu hìnhđời con5Đối chiếu số liệu(nếu có) và kếtluận bằng câu"Vậy …"
Khung Punnett 2×2 minh hoạ lại phép lai Bb × Bb trong bài toán ôn tập.
Hàng và cột mang hai loại giao tử B, b của mỗi cây Bb — bốn ô ứng với BB, Bb, Bb, bb, đúng tỉ lệ kiểu gene 1:2:1 và kiểu hình 3 hạt trơn : 1 hạt nhăn.
Ví dụ
Bài toán tổng hợp: từ lai phân tích đến dự đoán đời sau
  1. 1
    Giả thiết trội hoàn toàn, gene trên NST thường, không đột biến. Một cây đậu Hà Lan hạt trơn (kiểu hình trội, B trội hoàn toàn so với b) chưa rõ kiểu gene được đem lai phân tích với cây hạt nhăn (bb), thu được đời con gồm 42 cây hạt trơn và 40 cây hạt nhăn. a) Xác định kiểu gene của cây hạt trơn đem lai. b) Cho hai cây F1 hạt trơn (từ phép lai a) giao phấn với nhau, dự đoán tỉ lệ kiểu hình đời con của chúng.
  2. 2

    Đời con có 42 cây hạt trơn và 40 cây hạt nhăn, xấp xỉ tỉ lệ 1:1. Theo quy luật phân li, tỉ lệ 1:1 chỉ xuất hiện khi cá thể đem lai tạo hai loại giao tử với tỉ lệ bằng nhau, tức là dị hợp. Vậy cây hạt trơn đem lai có kiểu gene Bb. (1)

  3. 3

    Từ (1), đời con lai phân tích gồm cả Bb (hạt trơn) và bb (hạt nhăn); trong lứa này, mọi cây hạt trơn đều mang kiểu gene Bb (chỉ tổ hợp Bb mới cho kiểu hình trội trong phép lai Bb × bb). Vậy phép lai giữa hai cây F1 hạt trơn chính là Bb × Bb.

  4. 4

    Theo quy luật phân li, cây Bb tạo hai loại giao tử B, b tỉ lệ 1:1. Khung Punnett cho Bb × Bb: đời con phân li kiểu gene 1 BB : 2 Bb : 1 bb.

  5. 5

    Vì trội hoàn toàn, BB và Bb (3 phần) đều biểu hiện hạt trơn, chỉ bb (1 phần) biểu hiện hạt nhăn — tỉ lệ kiểu hình 3 hạt trơn : 1 hạt nhăn.

  6. 6

    Vậy cây hạt trơn đem lai phân tích ban đầu có kiểu gene dị hợp Bb; khi cho hai cây F1 hạt trơn (đều Bb) giao phấn với nhau, đời con dự kiến phân li theo tỉ lệ 3 hạt trơn : 1 hạt nhăn.

Ví dụ
Bài toán tổng hợp: từ hai cặp tính trạng đến xác suất một kiểu hình (dạng đề thi)
  1. 1
    Giả thiết trội hoàn toàn ở cả hai cặp tính trạng, hai cặp gene trên hai cặp NST khác nhau, không đột biến. Cho lai P: cây hạt vàng, trơn thuần chủng với cây hạt xanh, nhăn thuần chủng (A: vàng trội/a: xanh lặn; B: trơn trội/b: nhăn lặn). a) Viết kiểu gene P, F1 và xác định kiểu hình của chúng. b) Cho F1 tự thụ phấn, tính xác suất một cây con F2 mang kiểu hình hạt xanh, trơn bằng quy tắc xác suất.
  2. 2

    Vì hai dòng P đều thuần chủng, kiểu gene P là AABB (vàng, trơn) và aabb (xanh, nhăn). Theo quy luật phân li độc lập, AABB chỉ cho giao tử AB, aabb chỉ cho giao tử ab, nên F1 đồng loạt kiểu gene AaBb, kiểu hình 100% vàng, trơn. (1)

  3. 3
    Từ (1), F1 (AaBb) tự thụ phấn tương đương phép lai AaBb × AaBb. Tách riêng từng cặp: $P(\text{xanh}) = 1/4$ (lặn, cặp màu hạt); $P(\text{trơn}) = 3/4$ (trội, cặp hình dạng hạt). (2)
  4. 4
    Vì hai cặp gene phân li độc lập, kết hợp (2): $P(\text{xanh, trơn}) = 1/4 \times 3/4 = 3/16$.
  5. 5

    Đối chiếu với tỉ lệ kiểu hình F2 tổng quát 9:3:3:1: lớp xanh-trơn (đồng hợp lặn ở cặp màu, trội ở cặp hình dạng) đúng bằng 3/16 trong tỉ lệ đó — khớp với kết quả vừa tính.

  6. 6

    Vậy P có kiểu gene AABB và aabb, F1 đồng loạt AaBb với kiểu hình 100% vàng, trơn; xác suất một cây F2 mang kiểu hình hạt xanh, trơn là 3/16.

Luyện tập có hướng dẫn

Luyện tập độc lập

Sai lầm thường gặp
Sai lầm phổ biến nhất khi làm bài tổng hợp là bỏ qua bước xác định giả thiết trước khi tính — quên nêu trội hoàn toàn, gene trên NST thường, không đột biến khiến lời giải thiếu căn cứ dù đáp số đúng. Một sai lầm khác là dùng khung Punnett cho phép lai ba cặp tính trạng trở lên (64 ô, dễ sai sót) thay vì quy tắc xác suất — hoặc ngược lại, dùng quy tắc xác suất khi đề hỏi TOÀN BỘ tỉ lệ phân li (cần khung Punnett để thấy hết các lớp kiểu hình), không phải chỉ một kiểu hình cụ thể.

Kiểm tra nhanh

Ghi nhớ

Một bài toán lai tổng hợp luôn đi qua năm bước: nêu giả thiết → xác định kiểu gene P → chọn công cụ (khung Punnett hay quy tắc xác suất) → tính tỉ lệ đời con → kết luận bằng câu "Vậy …". Nắm chắc năm bước này, mọi biến thể của đề chỉ là thay tên gene và số liệu.

Khóa học tiếp theo trong chương trình sẽ giải thích CƠ SỞ vật chất đứng sau những tỉ lệ em vừa tính — vì sao nhiễm sắc thể lại phân li đúng theo cách Mendel đã suy luận từ số liệu.